Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Khóa luận sẽ trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra khóa luận cũng trình bày về đóng góp đề tài và bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Chương 2 khóa luận sẽ trình bày những lý thuyết nghiên cứu làm nền tảng để phân tích và xây dựng mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu cho đề tài. Chương 2 cũng lược khảo những nghiên cứu có liên quan để xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 3 xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài và trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu bao gồm các kỹ thuật phân tích và kiểm định kết quả thu thập từ khảo sát. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5 Chương 4 của đề tài sẽ trình bày kết quả phân tích bao gồm thống kê mô tả dữ liệu thu thập từ khảo sát, phân tích độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và phân tích thảo luận kết quả hồi quy. Chương 5: Kết luận và đề xuất khuyến nghị Nội dung chương 5 sẽ trình bày kết luận chung về đề tài và đưa những hàm ý quản trị đối với ngân hàng và người sử dụng thẻ tín dụng trong việc sử dụng một cách hợp lý hơn. Ngoài ra chương 5 cũng trình bày những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thẻ tín dụng 2. Khái niệm về thẻ tín dụng Thẻ tín dụng ngày càng thông dụng trong đời sống xã hội, do vậy có nhiều cách tiếp cận khái niệm về thẻ tín dụng. Trong phạm vi khóa luận, tác giả trình bày một số khái niệm như sau: Khoản 3, điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN đã quy định: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép các chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ” Thẻ tín dụng để thực hiện giao dịch mua bán hoặc thanh toán dịch vụ.
Thẻ tín dụng được ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành, thẻ tín dụng cung cấp hai chức năng riêng biệt vừa là phương tiện thanh toán song song đó là nguồn tín dụng (Mitchell và Mickel 1999). Ngoài ra, thẻ tín dụng đã được giới thiệu như một kế hoạch tín dụng được gọi là "Charge-It" trong năm 1946. Đây là trong một hình thức scrip đó tạo điều kiện cho khách hàng để thực hiện thanh toán với các thương nhân. Sau khi giao dịch, các scrip đã được gửi tại ngân hàng và các khoản thanh toán đã được nâng cao cho thương nhân.
Thẻ tín dụng phục vụ chức năng của việc kiếm tiền phòng ngừa dễ dàng có sẵn cho khách hàng để giao dịch, và kể từ khi thẻ tín dụng có một "thời gian ân hạn", khách hàng có thể thực hiện thanh toán của số dư cuối tháng (Brito và Hartley, 1995). Nó chỉ là một vấn đề thời gian trước khi cơ sở tín dụng đã được thực hiện có sẵn cho các cá nhân thông qua thẻ tín dụng. Như vậy, về mặt bản chất, thanh toán bằng thẻ tín dụng cũng giống như phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Đây là một hành vi mang tính lặp đi lặp lại nhiều lần (hay còn gọi là thói quen) trong các chu kỳ thời gian.
Nhìn chung, thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho người sử dụng với một hạn mức tín dụng nhất định dựa trên uy tín, khả năng tài chính, số tiền ký quỹ. Người sử dụng có thể sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán tại 7 các đơn vị chấp nhận thẻ như: siêu thị, cửa hàng, nhà hàng ăn uống, trung tâm thương mại và các giao dịch thương mại điện tử. Đặc điểm thẻ tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), thẻ tín dụng có một số đặc điểm như Tính đa dạng: Tuỳ thuộc vào hạn mức tín dụng mà khách hàng sẽ được ngân hàng cấp những loại thẻ tín dụng khác nhau. Tính thuận tiện: Người sử dụng thẻ tín dụng có thể thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc thanh toán trên các sản thương mại điện tử.
Đặc biệt, đối với các giao dịch lớn thì việc sử dụng thẻ tín dụng giúp người dùng tiết kiệm nhiều thời gian giao dịch. Tính an toàn: Với công nghệ ngày càng hiện đại, các thẻ tín dụng của ngân hàng được tích hợp nhiều công nghệ hiện đại, có gắn chip đóng vai trò là trung tâm xử lý thông tin thẻ. Khi có sự tác động hoặc cố tình sao chép thì sẽ tự động hỏng vĩnh viễn để đảm bảo thông tin tuyệt đối của người dùng. Chức năng thẻ tín dụng Theo giáo trình Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2009), thẻ tín dụng có nhiều chức năng hữu ích hỗ trợ cho khách hàng, các chính năng chính như sau: Chức năng thanh toán: Với thẻ tín dụng, người sử dụng có thể thực hiện chi tiêu trước và thanh toán sau áp dụng tất cả các chi tiêu trong và ngoài nước.
Đồng thời, người sử dụng sẽ có thời gian thanh toán từ 45-55 ngày tuỳ từng dòng thẻ, nếu người sử dụng thanh toán đúng hạn sẽ không bị tính lãi. Chức năng thanh toán trực tuyến: Thẻ tín dụng không chỉ giúp người sử dụng thanh toán tại các điểm thanh toán mà còn giúp người dùng thanh toán trên các sàn giao dịch thương mại điện tử. Cùng với sự phát triển của việc mua sắm trực tuyến, việc sử dụng thẻ tín dụng giúp người dùng tiết kiệm được thời gian và công sức hơn so với việc thanh toán truyền thống. 8 Rút tiền mặt: Người dùng có thể rút tiền mặt để chi trả các khoản thanh toán, tuy nhiên, người dùng sẽ chịu các phí rút tiền mặt khá cao kèm theo lãi suất tiền cũng cao hơn với các khoản chi tiêu thông thường.
Trả góp: Đây là một chức năng quan trọng của thẻ tín dụng. Các tổ chức tín dụng thường áp dụng các chương trình mua hàng trả góp 0% bằng thẻ tín dụng, giúp người dùng giảm áp lực về mặt tài chính. Khái niệm về quyết định thanh toán thẻ tín dụng Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thẻ tín dụng nhưng hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức về quyết định thanh toán thẻ tín dụng, tuy nhiên trong thực tế hiện nay, QĐTT thẻ tín dụng mang một số đặc điểm sau: Quyết định thanh toán thẻ tín dụng là hành động sử dụng thẻ tín dụng để trả tiền cho hàng hóa hoặc dịch vụ thay vì sử dụng tiền mặt hoặc thẻ ghi nợ. Quyết định này thường được dựa trên nhiều yếu tố như sự tiện lợi, khả năng trì hoãn thanh toán, tích lũy điểm thưởng và các chương trình khuyến mãi.
Hiện nay thẻ tín dụng có nhiều tiện ích như thanh toán hoá đơn, mua sắm trực tuyến hoặc rút tiền mặt. Tuy nhiên việc thanh toán tín dụng hiện tượng của khách hàng thường dùng để thanh toán các khoản chi tiêu bằng hình thức không dùng tiền mặt. Thẻ tín dụng mang lại sự tiện lợi vì người tiêu dùng không cần mang theo tiền mặt và có thể thanh toán nhanh chóng tại các điểm bán hàng hoặc trực tuyến, đồng thời được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu, giúp dễ dàng thực hiện giao dịch khi du lịch hoặc công tác ở nước ngoài. Một lợi ích chính của thẻ tín dụng là khả năng trì hoãn thanh toán, cho phép khách hàng mua sắm ngay lập tức và thanh toán sau, thường là vào cuối kỳ sao kê hàng tháng, giúp quản lý dòng tiền tốt hơn khi gặp chi phí đột xuất.
Ngoài ra, nhiều thẻ tín dụng cung cấp các chương trình tích lũy điểm thưởng, hoàn tiền hoặc các ưu đãi khác như giảm giá và sự kiện đặc biệt, thu hút khách hàng sử dụng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, QĐTT bằng thẻ tín dụng mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng thể gây một số thách thức cho khách hàng như việc chi tiêu quá mức hoặc lạm dụng thanh toán dẫn các khoản nợ tín dụng và chi phí lãi suất cao, đảm bảo sức khỏe tài chính cá nhân trong dài hạn. Khái niệm hành vi Theo Từ điển trực tuyến Wikipedia, Hành vi (Tiếng Anh: behavior) là hành động và cách cư xử được các cá nhân, sinh vật, hệ thống hoặc thực thể nhân tạo thực hiện kết hợp với chính họ hoặc môi trường của họ, bao gồm các hệ thống hoặc sinh vật khác xung quanh cũng như môi trường vật lý. Theo Skinner (1976), hành vi của con người rất khó phân tích bởi tính chất cực kì phức tạp của nó.
Hành vi của con người chủ yếu dựa trên mối quan hệ nhân quả. Con người hành động do ảnh hưởng từ các yếu tố kích thích bên trong và bên ngoài và thể hiện những phản ứng nhất định ra ngoài. Trong tâm lý học sự tương tác này được gọi là hành vi. Hành vi Yếu tố Yếu tố bên trong bên ngoài Con người Phản ứng Phản ứng Hình 2.1: Mô hình phát triển hành vi (Nguồn: Skinner (1976)) 2.
Tổng quan về các lệch lạc tâm lý Theo Lê Đạt Chí và cộng sự (2018), các lệch lạc tâm lý là những sai lệch trong cách con người suy nghĩ và đánh giá tình huống, ảnh hưởng đến quyết định và hành vi của họ trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả tài chính cá nhân và quản lý thẻ tín dụng. Đặc điểm nhận diện của các lệch lạc tâm lý bao gồm sự thiên lệch trong đánh giá rủi ro và lợi ích, sự dựa vào thông tin ban đầu để đưa ra quyết định, cũng như sự thiếu kiểm soát trong việc đưa ra quyết định. Hậu quả của các lệch lạc tâm lý có thể là việc lựa chọn không tối ưu, dẫn đến rủi ro tài chính cao hơn dự kiến, khả năng tích lũy nợ nần không kiểm soát được, và sự không hài lòng về quản lý tài chính cá nhân. Ngoài 10 ra, các tổ chức tài chính cũng có thể gặp khó khăn trong việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu thực của khách hàng.
Một số lệch lạc tâm lý thường gặp đối với người tiêu dùng như: 2. Thiên lệch bảo thủ (Conservatism Bias) Thiên lệch bảo thủ là một dạng thiên lệch kiên định về niềm tin khi các nhà đầu tư giữ vững quan điểm hoặc dự báo trước đây của họ bằng việc kết hợp không đầy đủ những thông tin mới hoặc mâu thuẫn với nhau.