Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Nội dung chương này sẽ nêu ra vấn đề và tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu. Từ đó tác giả định hình nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết liên quan đến hành vi tiêu dùng của khách hàng, các lý thuyết đến việc ra quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng. Đồng thời, tác giả sẽ khảo lược các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài để đề xuất ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu cho mô hình.
6 Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả sẽ thiết kế quy trình nghiên cứu, tiến hành lập các quan sát để làm thang đo cho các biến trong mô hình. Nêu ra các chỉ tiêu nhằm để kiểm định các ý nghĩa và hệ số của mô hình. Làm cơ sở cho kết quả của chương 4. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các kết quả nghiên cứu bao gồm các mục liên quan đó là thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, kiểm định yếu tố khám phá EFA và kết quả tương quan, mô hình hồi quy.
Đồng thời dựa trên các kết quả đó tác giả sẽ thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trong chương này, tác giả sẽ có kết luận tổng quát về kết quả nghiên cứu. Đồng thời đưa ra những đề xuất, giải pháp và hàm ý chính sách để gia tăng quyết định gửi tiền tiết kiệm trực tuyến của khách hàng. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Chương 2 sẽ trình bày một số cơ sở lý thuyết, và các nghiên cứu trong và ngoài nước về sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định gửi tiền tiết kiệm trực tuyến của khách hàng cá nhân.
Qua đó, chương này sẽ thảo luận để xác định, thiết kế mô hình nghiên cứu cụ thể cho trường hợp tại Agribank Bình Dương. Tiền gửi tiết kiệm trực tuyến tại các ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm trực tuyến Theo Benton E.Kolari (2005) “TGTK là một khoản tiền mà KH gửi vào ngân hàng để hưởng một mức lãi suất cố định trong một thời gian cố định” Theo Tô Ngọc Hưng (2009) “TGTK là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng. Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó” Theo Trần Huy Hoàng (2012) “ TGTK là tiền gửi của các tầng lớp dân cư gửi vào ngân hàng nhằm mục đích để dành, sinh lời và an toàn tài sản” Như vậy, TGTK là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được xác nhận trên sổ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của tổ chức tín dụng.
Tiền gửi tiết kiệm trực tuyến là một dạng tiền gửi ngân hàng cho phép khách hàng được thực hiện thao tác mở tài khoản tiết kiệm thông qua kết nối Internet, thay vì theo hình thức truyền thống phải đến quầy giao dịch và thao tác dựa trên các giấy tờ với nhân viên ngân hàng. Mặt khác, đối với hình thức gửi tiền này khách hàng có thể tra khảo thông tin về lãi suất, kỳ hạn, thời gian đáo hạn hay số dư,.dựa trên điện thoại thông minh và mạng Internet một cách nhanh chóng chính xác. Đối với giao dịch gửi tiền tiết kiệm thông qua hình thức trực tuyến thì khách hàng không cần thiết phải lập sổ tiết kiệm, sao kê điện tử đóng vai trò như chức năng chính của sổ tiết kiệm hay thực hiện toàn bộ thao tác tất toán tự động khi đáo hạn, hỗ trợ chủ sở hữu quản lý tài chính tốt nhất. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm trực tuyến Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể: Trần Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2013) thông thường khi tiến hành gửi tiết kiệm, người dùng sẽ được chọn kỳ hạn gửi ( 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng,…).
Ngày cuối cùng cũng mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đáo hạn, người dùng sẽ nhận lại được một khoản tiền sau khi đã gửi cho ngân 8 hàng vào ngày này. Tất nhiên, không phải lúc nào tiền gửi tiết kiệm cũng có kỳ hạn, bạn vẫn có thể chọn hình thức không kỳ hạn và có thể tất toán bất cứ lúc nào. Tiền gửi tiết kiệm sinh lãi suất: Lãi suất chính là yếu tố then chốt để thu hút các khách hàng trong vấn đề gửi tiết kiệm. Lãi suất tiết kiệm bao gồm hai loại đó là lãi suất có kỳ hạn ( áp dụng với hình thức tiết kiệm có kỳ hạn) và lãi suất không kỳ hạn (áp dụng với tiết kiệm không kỳ hạn).
Lãi suất không kỳ hạn thông thường sẽ thấp hơn lãi suất có kỳ hạn. Nhìn chung, lợi nhuận bạn thu lại từ tiết kiệm không cao nhưng đảm bảo ổn định và ít rủi ro so với một số ngành đầu tư khác như là chứng khoán, bất động sản. Các hình thức gửi tiền tiết kiệm trực tuyến phổ biến Gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn: Gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức mà người gửi chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng. Lãi suất tiết kiệm sẽ được tính theo các kỳ hạn mà ngân hàng đặt ra, ví dụ như kỳ hạn dài hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng và dài hạn như 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng,…Hình thức này người gửi được hưởng lãi cao.
Với dạng tiền gửi tiết kiệm này, người gửi chỉ được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãi khi đáo hạn. Khi chưa đến hạn, người gửi không được phép thêm vào số tiền đã gửi. Mỗi lần gửi sẽ được xem là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tối thiểu của mỗi lần gửi sẽ do từng ngân hàng quy định.
Gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn: Đối với hình thức gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi có thể linh hoạt gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần thông báo trước cho ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất tiết kiệm của hình thức này rất thấp. Gửi tiền tiết kiệm dạng này sẽ giúp đảm bảo an toàn cho khoản tiền nhàn rỗi, dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn và đồng thời được hưởng một chút lãi suất. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng của khách hàng Nghiên cứu hành vi khách hàng là nhằm giải thích quá trình mua hay không mua một loại hàng hoá nào đó thông qua xu hướng tiêu dùng của khách hàng.
Theo Leon Schiffiman, David Bednall và Aron O’cass (1997), "hành vi khách hàng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ". Theo Bennet (1988), "hành vi của khách hàng là những hành vi mà khách hàng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ". Theo 9 Philip Kotler (2001), "người làm kinh doanh nghiên cứu hành vi khách hàng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem khách hàng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy khách hàng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình".1: Hành vi của khách hàng Kích thích Kích thích Đặc điểm Quá trình ra quyết Quyết định của Marketing khác người mua định mua người mua Sản phẩm Kinh tế Văn hóa Nhận thức vấn đề Chọn sản phẩm Giá Công nghệ Xã hội Tìm kiếm thông tin Chọn công ty Chọn đơn vị Địa điểm Chính trị Tâm lý Đánh giá phân phối Chiêu thị Văn hóa Cá tính Quyết định Định thời gian Hành vi sau mua Định số lượng Nguồn: Philip Kotler (2001) Tiến trình quyết định mua của khách hàng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua.
Trong đó “Quyết định chọn mua sản phẩm là một quá trình đánh giá hành vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản phẩm đó. Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, khách hàng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất” (Solomon Micheal- Consumer Behavior, 1992). Các lý thuyết liên quan 2.
Thuyết hành động hợp lý (TRA) Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Hai yếu tố quyết định đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) Trong mô hình TRA, thái độ khách hàng được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Khách hàng thường sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau và có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của khách hàng thông qua mức độ quan trọng này. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến khách hàng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,v.); những người này thích hay không thích việc khách hàng mua.
Mức độ ảnh hưởng của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của khách hàng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của khách hàng và (2) động cơ của khách hàng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của khách hàng và động cơ thúc đẩy khách hàng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với khách hàng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ.