Chương 1 đặt ra vấn đề nghiên cứu của đề tài về “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Phú Yên” là cần thiết nhằm biết được những yếu tố tác động và mức tác động đến việc ra quyết định chọn một ngân hàng để gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Phú Yên. Bài nghiên cứu thực hiện trên phạm vi với đối tượng là khách hàng cá nhân đến giao dịch tại Agribank chi nhánh tỉnh Phú Yên, đây là nhóm khách hàng quan trọng có tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động được tại Agribank chi nhánh tỉnh Phú Yên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm 2.
Khái niệm: Theo Benton E.Kolari (2005), tiền gửi tiết kiệm là một khoản tiền khách hàng đến gửi vào ngân hàng nhằm để có được một mức lãi suất cố định trong một thời gian cố định. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân gửi vào ngân hàng , ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả lại cho người gửi. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.
( Nguyễn Đăng Dờn, 2013) Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), các khái niệm về hoạt động gửi tiền tiết kiệm gồm: Người gửi tiền: là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là người đứng tên trên sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm. Đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là hai cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm. Giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: là giao dịch gửi, rút tiền gửi tiết kiệm và các giao dịch khác liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Sổ tiết kiệm: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại ngân hàng. Kỳ hạn gửi tiền: là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào ngân hàng đến ngày ngân hàng cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng quy định cho từng hình thức tiền gửi tiết kiệm phù hợp với lãi suất thị trường, lãi suất sẽ được điều chỉnh theo biến động trên thị trường. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được tính theo ngày.
Phân loại tiền gửi tiết kiệm Theo Trầm Thị Xuân Hương và các cộng sự (2012), theo thời gian gửi, tiền gửi tiết kiệm được phân loại thành tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn, trung, dài hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền được rút tiền ra bất kỳ lúc nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay thanh toán chuyển khoản. Đối tượng huy động chủ yếu là cá nhân có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng. Khi gửi tiền vào, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Mỗi lần giao dịch khách hàng phải mang sổ tiết kiệm. Sổ tiết kiệm này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được hưởng và số dư hiện có. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Ngân hàng có thể huy động dưới hình thức sổ tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi, nhằm huy động những khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân gửi vào với mục đích nhận lãi và đảm bảo an toàn tài sản.
Khi gửi tiền vào khách hàng sẽ được ngân hàng cấp cho một sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mỗi một món tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được ngân hàng theo dõi thẻ lưu chi tiết vì mỗi món tiền có ngày đáo hạn khác nhau, lãi suất khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền tạm thời nhàn rỗi trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 một thời gian nhất định, do đó loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM và mang tính ổn định hơn tiền gửi thanh toán. Vì vậy, với hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn để cho vay ngắn, trung, dài hạn.
Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể: khi đến gửi tiền tiết kiệm, người gửi tiền sẽ lựa chọn kỳ hạn mà mình muốn gửi. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đến hạn, người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận lại được một khoản tiền gốc và lãi sau khi đã gửi cho ngân hàng một thời gian vào ngày này. Ngoài ra, người gửi tiền vẫn có thể chọn hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có thể rút tiền bất cứ lúc nào theo nhu cầu sử dụng. Người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận được lãi suất.
Lãi suất là khoản tiền lời của người gửi tiết kiệm khi gửi tiền, bao gồm hai loại đó là lãi suất có kỳ hạn và lãi suất không kỳ hạn. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sẽ cao hơn lãi suất tiền gửi không có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm của người gửi được kiểm soát qua sổ tiết kiệm và thẻ tiết kiệm, là những vật dụng của các NHTM nhằm quản lý số tiền, lãi suất và kỳ hạn gửi tiết kiệm của người gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định, an toàn.
Người gửi tiền biết trước khoản tiền lãi mình sẽ được nhận sau khi gửi tiết kiệm, tiền gửi tiết kiệm được giữ an toàn trong ngân hàng và khi có nhu cầu gấp, có thể rút các khoản tiền gửi ra sử dụng và chỉ mất lãi suất được hưởng của kỳ hạn gửi đó. Theo các quy định của NHNN tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền phải dự trữ bắt buộc và phải được mua bảo hiểm tiền tiền gửi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Đối với NHTM: Nguồn vốn mà các NHTM huy động được từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn, góp phần cung cấp vốn cho các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM như cho vay, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán trong nước và quốc tế…tạo ra lợi nhuận cho NHTM.
Đối với khách hàng: Người gửi đến gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM nhận được lợi nhuận từ hưởng lãi, đảm bảo an toàn và tính thanh khoản cao cho tài sản của bản thân. Khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khác của NHTM thì có thể tiếp cận dễ dàng hơn các đối tượng khách hàng khác. Đối với nền kinh tế: NHTM huy động được các khoản tiền gửi tiết kiệm nhàn rỗi, nhỏ lẻ trong nền kinh tế tạo thành nguồn vốn lớn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngoài ra, thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc của nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng trung ương có thể điều hành hiêu quả các chính sách.
Lý thuyết hành vi tiêu dùng và mô hình EKB 2. Lý thuyết hành vi tiêu dùng Trong lý thuyết về hành vi tiêu dùng của Philip Kotler & Gary Armstrong(2012) thì mục tiêu của người tiêu dùng khi sử dụng ngân sách của mình để mua sắm hàng hóa và dịch vụ là mong muốn thu được lợi ích và nhằm tối đa hóa được lợi ích của họ. Với hàng hóa tiêu dùng, nếu còn khả năng làm cho lợi ích tăng thêm thì người tiêu dùng còn tăng chi tiêu với mong muốn sẽ hướng tới giá trị lớn nhất. Theo Philip Kotler & Gary Armstrong (2012) hành vi của người tiêu dùng là những hành vi cụ thể của người đó khi thực hiện các quyết định như mua sắm, sử dụng, vứt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 bỏ sản phẩm hay dịch vụ.
Các hành vi của người tiêu dùng gồm tư duy, cảm nhận và những hành động ra quyết định mà họ thực hiện trong quá trình mua sản phẩm. Quá trình quyết định mua của khách hàng là một chuỗi các giai đoạn mà người tiêu dùng trải qua trong việc quyết định mua sản phẩm hoặc dịch vụ, trong quá trình quyết định mua của khách hàng, có những nhóm yếu tố sẽ có tác động đến như: yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân, yếu tố tâm lý. Quá trình quyết định mua của khách hàng gồm 5 giai đoạn: Thứ nhất là nhận biết nhu cầu: Quá trình quyết định mua xảy ra khi người tiêu dùng nhận biết một nhu cầu của chính họ bằng cảm xúc bên trong hoặc bị tác động bằng cảm xúc khách quan đủ mạnh. Thứ hai là tìm kiếm thông tin: Giai đoạn tìm kiếm thông tin là để làm rõ những chọn lựa mà người tiêu dùng được cung cấp, bao gồm hai bước: Tìm kiếm bên trong: liên quan đến việc tìm kiếm trong kí ức để khơi dậy những kinh nghiệm hoặc hiểu biết trước đây liên quan đến công việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề.
Tìm kiếm bên trong thường phục vụ những sản phẩm mua thường xuyên. Tìm kiếm bên ngoài: Cần thiết khi những kinh nghiệm hoặc hiểu biết trong quá khứ không đủ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Các nguồn thông tin bên ngoài chủ yếu là: - Nguồn thông tin cá nhân: Gia đình bạn bè, hàng xóm, người quen - Nguồn thông tin công cộng: Quảng cáo, người bán hàng, các nhà kinh doanh, bao bì, triển lãm. - Nguồn thông tin có ảnh hưởng đến người tiếp thị - Nguồn thông tin đại chúng : Tivi, các tổ chức nghiên cứu, phân loại người tiêu dùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Ngoài ra công việc tìm kiếm còn kết hợp cả bên trong và bên ngoài thường được sử dụng cho các sản phẩm tiêu dùng.