ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung Vai trò của hô hấp đặc biệt quan trọng đối với sức khoẻ con người, thế nhưng ngày nay con người đang phải đối mặt với sự ô nhiễm không khí, đây là vấn đề được quan tâm toàn cầu trước nguy cơ suy giảm tầng ôzon. Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho ô nhiễm không khí xảy ra và ngày càng trầm trọng hơn, trong đó các hoạt động đáng kể đến từ khói bụi trong sản xuất công nghiệp, phương tiện giao thông xả thải, nguồn nước thải sinh hoạt chưa được xử lý thải trực tiếp ra môi trường và hoạt động của nghành xây dựng cũng góp phần khiến cho ô nhiễm không khí trầm trọng hơn. Ngành xây dựng tác động không chỉ đến vấn đề môi trường, kinh tế và xã hội, nghiên cứu của Hội đồng Công trình xanh (CTX) Hoa Kỳ đã đề cập rằng các tòa nhà ở Hoa Kỳ đã phát thải 38% CO2, 71% tiêu thụ điện, 39% sử dụng năng lượng, 12% tiêu thụ nước và 40% chất thải phi công nghiệp (USGBC, 2008). Tại Vương quốc Anh lĩnh vực xây dựng tiêu thụ một lượng lớn năng lượng và thải ra 57% CO2 (Environmental, 2012).
Ngoài ra, tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt một phần lớn nguyên nhân gây ra bởi hoạt động xây dựng. Tại Việt Nam, các thành phố lớn có tốc độ đô thị hoá, làn sóng di cư tới các đô thị tăng gây sức ép cho hệ thống giao thông, trường học, bệnh viện, nhà ở, văn phòng làm việc.1 Tác động của ngành xây dựng đến môi trường tại Việt Nam Trước tình trạng khủng hoảng môi trường toàn cầu ngày càng trầm trọng, CTX đã trở thành một xu hướng chung trong ngành xây dựng (Pham & Nguyen, GVHD: TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương HVTH: Nguyễn Thị Tuyết Nhung-2070218 Luận Văn Thạc Sỹ 2 2021). Trên Thế giới, Chính phủ các nước đã khuyến khích các quốc gia tìm kiếm giải pháp ứng phó để giảm thiểu những tác động của ngành xây dựng đến môi trường nhằm phát triển đô thị theo xu hướng bền vững, không ngừng bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống theo hướng tích cực, hiện đại, tiện nghe nhưng hài hoà và bảo vệ tài ngyên với thiên nhiên.
Các chính sách thúc đẩy CTX đã trở thành một phần quan trọng trong cải cách chính sách phát triển ở nhiều quốc gia, nhiều hệ thống đánh giá toà nhà theo tiêu chuẩn xanh cũng được ra đời. Một số chứng chỉ CTX được thể hiện trong Bảng 1.1 Tiêu chuẩn CTX của các quốc gia trên thế giới Tên tổ Công cụ đánh giá tiêu chuẩn STT Quốc gia Vùng chức CTX Argentina 1 Argentina America LEED GBC Asia- GBC 2 Australia Green Star Pacific Australia LEED GBC 3 Brazil America Alta Qualidade Ambiental Brazil (AQUA) Canada LEED Canada 4 Canada America GBC Green Globes 5 Chile America Chile GBC LEED EEWS (Ecology, Energy Chinese Asia- Taiwan 6 saving, Waste and Health) Taipei Pacific GBC LEED Selo Ambiental Colombiano Columbia para las Edificacionis (SACE) 7 Columbia America GBC [Colombian Environmental Seal for Sustainable Building] LEED Croatia BREEAM 8 Croatia Europe GBC DGNB (Deutsche Gesellschaft fur Nachchaltiges Bauen) France HQE (Haute Qualité 9 France Europe GBC Environnementale) German DGNB 10 Germany Europe Sustainable BREEAM Germany GVHD: TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương HVTH: Nguyễn Thị Tuyết Nhung-2070218 Luận Văn Thạc Sỹ 3 Tên tổ Công cụ đánh giá tiêu chuẩn STT Quốc gia Vùng chức CTX Building Council BEAM Plus (Building Asia- Hong Kong 11 Hong Kong Environmental Assessment Pacific GBC Method) IGBC (Indian Green Building Asia- Indian 12 India Council) Rating Pacific GBC LEED Japan CASBEE (Comprehensive Asia- Sustainable Assessment System Built 13 Japan Pacific Building Environment Consortium Efficiency) MENA (Middle Jordan 14 Jordan East LEED GBC and North Africa) Asia- Malaysia 15 Malaysia Green Building Index Pacific GBC Dutch 16 Netherlands Europe BREEAM GBC New New Asia- Green star adapted from Green 17 Zealand Zealand Pacific Star Australia) GBC 18 Peru America Peru GBC LEED Polish LEED 19 Poland Europe GBC BREEAM Asia- Singapore 20 Singapore Green Mark Pacific GBC South GBC South Green Star SA (adapted from 21 Africa Africa Africa Green Star Australia) VERDE (USGBC)(From SB GBC Tool) 22 Spain Europe Espana BREEAM LEED BREEAM SE (Swedish Sweden 23 Sweden Europe version) GBC LEED GVHD: TS. Trần Nguyễn Ngọc Cương HVTH: Nguyễn Thị Tuyết Nhung-2070218 Luận Văn Thạc Sỹ 4 Tên tổ Công cụ đánh giá tiêu chuẩn STT Quốc gia Vùng chức CTX BREEAM Turkish 24 Turkey Europe LEED GBC DGNB LEED Emirates 25 UAE MENA BREEAM GBC ESTIDAMA (Sustainability) 26 UK Europe UK GBC BREEAM LEED 27 USA America US GBC Green Globes LOTUS Asia- 28 Viet Nam VGBC LEED Pacific EDGE Thêm tiếp nối ưu điểm của hệ thống LEED và Green mark, LOTUS là hệ thống tiêu chí CTX đầu tiên được phát triển dành riêng cho thị trường xây dựng tại Việt Nam với vai trò định hướng và thiết lấp công cụ đánh giá công trình thân thiện với môi trường, chú trọng sức khoẻ và có chi phí vận hành thấp (VGBC - LOTUS) hướng tới phát triển bền vững.
Theo Hội nghị thượng đỉnh Thế giới năm 2002 diễn ra tại Nam Phi thì phát triển bền vững được định nghĩa “là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ giữa sự phát triển về kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” bên cạnh các hoạt đồng về văn hóa, chính trị, tinh thần, dân tộc. (Young, 1997) nhắc đến sự bền vững như một cái kiềng ba chân, đó là thành phần kinh tế, môi trường và xã hội rất quan trọng. Do đó, nếu thiếu một chân khỏi “bộ phận bền vững” thì sẽ gây ra bất ổn vì xã hội, kinh tế và hệ sinh thái có mối liên hệ mật thiết với nhau (Young, 1997). Ba yếu tố này củng cố lẫn nhau, và tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội được củng cố bởi các mối quan tâm về môi trường và ngược.
Tuy nhiên, theo (K. Waidyasekara, De Silva, & Rameezdeen, 2014b), để duy trì các hoạt động môi trường và xã hội, các lựa chọn phải duy trì hiệu quả kinh tế. Trần Nguyễn Ngọc Cương HVTH: Nguyễn Thị Tuyết Nhung-2070218 Luận Văn Thạc Sỹ 5 Hình 1.2 Ba khía cạnh tạo nên sự phát triển bền vững (Curran, 2009) Mục tiêu thực hiện bền vững toàn cầu dẫn đến sự phát triển của xây dựng theo hướng CTX. CTX là một công cụ đánh giá đại diện cho nỗ lực của con người đối với tiến trình phát triển bền vững chung.
Với mục tiêu phát triển bền vững, CTX hiện là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực xây dựng. Tuy nhiên để phát triển CTX, vấn đề về “chi phí” là một trong những chủ đề chính được thảo luận. Kịch bản về chi phí là rất quan trọng để đưa ra quyết định về việc đầu tư dự án CTX. Các nhà đầu tư cần biết liệu xây dựng CTX có làm tăng thêm chi phí hay không và nếu có, thời gian hoàn vốn là bao nhiêu (Gabay, Meir, Schwartz, & Werzberger, 2014).
Hơn nữa, chi phí của CTX là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển của công trình (WGBC). Chi phí vòng đời của CTX là tổng chi phí trong vòng đời kinh tế từ khi quyết định xây dựng, thiết kế, đấu thầu, xây dựng, hoàn thành và nghiệm thu cho đến khi người sử dụng ngừng sử dụng và bao gồm cả tổng nghiên cứu phí phát triển, phí sản xuất, phí lắp đặt, phí bảo trì vận hành và phí hoàn trả phế liệu trong vòng đời xác định của dự án hoặc tại một thời hạn hiệu lực được xác định trước (WGBC). Phương pháp tiếp cận vòng đời được coi là một cách tiếp cận có giá trị cho phép đánh giá lợi ích chi phí hoạt động so với bất kỳ sự gia tăng chi phí ban đầu nào (Cole & Sterner, 2000). Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng một trong những rào cản cho việc phát triển CTX liên quan đến kinh tế, chi phí đầu tư cao (Nguyen, Skitmore, Gray, GVHD: TS.
Trần Nguyễn Ngọc Cương HVTH: Nguyễn Thị Tuyết Nhung-2070218 Luận Văn Thạc Sỹ 6 Zhang, & Olanipekun, 2017; Pitt, Tucker, Riley, & Longden, 2009). Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Dự án văn phòng là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý xây dựng để uớc lượng và đánh giá chi phí đầu tư xây dựng cho vòng đời dự án theo tiêu chuẩn CTX là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý xây dựng, qua đó có thể dự trù được lợi nhuận do dự án theo tiêu chuẩn CTX mang lại giúp nhà đầu tư đẩy mạnh việc đầu tư dự án theo tiêu chuẩn CTX (Chegut, Eichholtz, & Kok, 2014), góp phần nâng cao năng suất làm việc cho nhân viên, cải thiện được sức khỏe, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm chi phí vận hành góp phần xây dựng thương hiệu và thay đổi bộ mặt của doanh nghiệp (Diyana & Abidin, 2013). Với những vấn đề nêu trên, luận văn trình bày về việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Dự án văn phòng dựa trên đánh giá chi phí trong vòng đời của dự án theo tiêu chuẩn CTX trường hợp tại Việt Nam dựa trên tiêu chuẩn LOTUS.2 Xác định vấn đề nghiên cứu Trong số các hệ thống đánh giá tổng thể, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng các tòa nhà văn phòng xanh được chứng nhận LEED, BREEAM và Green Star có lợi nhuận tốt hơn về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Các nghiên cứu trước đây về tính kinh tế của các CTX ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Úc đã phát hiện ra rằng các tòa nhà xanh có thể đạt được giá trị bán hàng cao hơn, thu được giá thuê cao hơn và tỷ lệ lấp đầy cao hơn so sánh với các công trình chưa đạt chứng chỉ CTX.
Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng ngành công nghiệp có xác nhận rằng “giá trị xanh” đang bắt đầu có tác động đến việc định giá tài sản thông qua chi phí vận hành tòa nhà thấp hơn, dễ bán và cho thuê, giữ chân người thuê và cải thiện tỷ lệ lấp đầy tổng thể (Ellis, 2009; Green Building Council Australia. 2013; Pitts, 2008) Điều này dẫn đến các câu hỏi về: Xác định sự gia tăng về chi phí của việc đầu tư xây dựng các tòa nhà văn phòng xanh so với các toà nhà thông thường, Lợi ích cho thuê của các tòa nhà văn phòng xanh: sự hài lòng của người sử dụng, làm việc trong toà nhà văn phòng xanh (hiệu quả công việc, sức khoẻ, tinh thần; lợi ích xã hội) và môi trường (nhận thức về tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường,…), GVHD: TS.