Chương 1 đã giới thiệu những vấn đề của đề tài nghiên cứu về tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NHTM để gửi tiền của KHCN trên địa bàn TP. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng trình bày những đóng góp của đề tài đến sự phát triển của các ngân hàng và cấu trúc tổng thể của bài khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại, khách hàng cá nhân và tiền gửi 2.
Lý thuyết về ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng của Quốc Hội (2010), NHTM là loại hình ngân hàng mà hoạt động với mục tiêu có lợi nhuận và được thực hiện hết tất cả hoạt động của một ngân hàng cũng như là hoạt động kinh doanh khác theo quy định. Nhìn chung, NHTM có thể được hiểu khái quát là tổ chức tín dụng được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng hoạt động kinh doanh xoay quanh các nghiệp vụ nhận tiền gửi với nhiều hình thức và ngân hàng sẽ lên kế hoạch dùng khoản tiền đó để cho khách hàng khác vay cũng như cung ứng đa dạng dịch vụ thanh toán từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011).
Các hoạt động của ngân hàng thương mại Theo Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2011), NHTM thường có một số nghiệp vụ chính sau: − Huy động vốn: Ngân hàng huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn hoặc dài hạn hay phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu,. theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo thời hạn xác định. − Cấp tín dụng: NHTM được cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng,. theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
9 Cho vay: Việc ngân hàng cho khách hàng vay một số tiền với thời hạn xác định và khách hàng phải có nghĩa vụ trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng. Chiết khấu giấy tờ có giá: Việc ngân hàng thỏa thuận với khách hàng mua lại các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán với giá trị thấp hơn giá trị trên giấy tờ. Bảo lãnh: Người bảo lãnh (ngân hàng) bảo lãnh người được bảo lãnh (khách hàng) về việc cam kết nghĩa vụ tài chính trong tương lai cho người nhận bảo lãnh (người thụ hưởng bảo lãnh). Nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ theo cam kết thì ngân hàng bảo lãnh phải có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ tài chính đó.
Điều này cũng đồng nghĩa việc ngân hàng sẽ cho khách hàng vay một khoản tiền đó và khách hàng buộc phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo đúng kỳ hạn Cho thuê tài chính: Đây là nghiệp vụ chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho thuê từ bên cho thuê sang bên thuê trong một khoảng thời gian cụ thể. Bên thuê phải có nghĩa vụ trả tiền thuê tài sản cho bên cho thuê trong thời gian sử dụng. Đến hết thời hạn thuê thì bên thuê có hai lựa chọn, một là tiếp tục gia hạn thuê tài sản đó hoặc hoàn trả cho bên thuê, hai là được quyền mua lại tài sản thuê đó. − Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Ngân hàng sẽ cung ứng phương tiện thanh toán, cung ứng thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng , thực hiện lệnh chi, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, dịch vụ thanh toán séc,.
thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng. − Các hoạt động khác: Bên cạnh các hoạt động đã liệt kê thì ngân hàng cũng có các nghiệp vụ khác như cung ứng ngân quỹ, nhận ủy thác, được ủy thác các lĩnh vực mà liên quan đến hoạt động ngân hàng, góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác bằng vốn điều lệ, tham gia các thị trường tiền tệ nội tệ, ngoại tệ,. theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các loại hình tiền gửi của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại 10 Theo Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2011), các hình thức huy động tiền gửi từ KHCN tại NHTM thường có tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá và cung cấp sản phẩm dịch vụ ủy thác.
Cụ thể như sau: − Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng và đây là loại hình không có thỏa thuận về thời gian rút tiền, ngân hàng sẽ trả một mức lãi suất rất thấp hoặc là không trả lãi cho số tiền gửi này. Đây là nguồn vốn huy động khá biến động cho ngân hàng, khách hàng có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào khi họ cần, vì vậy ngân hàng khó có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này được. Ngân hàng cần phải có một khoản dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng được gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Điều này giúp cho ngân hàng chủ động hơn khi sử dụng nguồn vốn này và có thể giải quyết ngay cho khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền (Quốc Hội, 2010).
− Tiền gửi tiết kiệm Khi khách hàng gửi tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng thường cung cấp sổ tiết kiệm cho khách hàng, đây được xem như giấy chứng nhận khách hàng đã gửi tiền tại ngân hàng và hình thức này cũng được xem là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Hiện nay, gửi tiền tiết kiệm có thêm hình thức trực tuyến và hình thức này không có sổ tiết kiệm như gửi tiền tiết kiệm trực tiếp tại quầy, khách hàng có thể gửi tiền tiết kiệm thông qua ứng dụng của ngân hàng một cách dễ dàng. Thông thường, tiền gửi tiết kiệm được chia thành hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Cụ thể như sau: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Khi lựa chọn gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn tại ngân hàng, khách hàng được phép rút tiền ra bất cứ lúc nào và được nhận lãi với mức lãi suất không kỳ hạn.
Đây là nguồn vốn thường có quy mô lớn với mức chi phí rất thấp, loại tiền gửi này hầu như có liên quan đến mọi hoạt động giao dịch của ngân hàng. 11 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Loại tiền gửi này có đa dạng kỳ hạn gửi tiền theo tháng, quý, năm,. và khách hàng sẽ được nhận một mức lãi suất tiền gửi tương ứng theo kỳ hạn mà họ đã lựa chọn, kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Khi khách hàng gửi tiết kiệm tại quầy với loại hình này, họ sẽ được nhận một quyển sổ tiết kiệm và phải mang theo quyển sổ này đến ngân hàng nếu muốn giao dịch gì liên quan.
Thông thường, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được xem như một nguồn vốn mang tính ổn định cho ngân hàng hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn vì vậy lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng thường cao hơn lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Trong trường hợp khách hàng muốn rút tiền tiết kiệm trước hạn từ ngân hàng và hai bên không có sự thỏa thuận ban đầu về rút tiền trước hạn, thường thì ngân hàng sẽ áp dụng lãi suất tiền gửi rút trước hạn theo đúng quy định. − Tiền gửi từ hoạt động phát hành giấy tờ có giá Giấy tờ có giá của ngân hàng bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,. do các NHTM phát hành, giấy tờ này được xem như giấy nợ của ngân hàng đối với khách hàng, được phát hành để giúp ngân hàng huy động vốn và ngân hàng phải có nghĩa vụ trả gốc và lãi cho khách hàng.
Trong những giấy tờ có giá này có xác nhận quyền đòi nợ của khách hàng đối với ngân hàng ở mức lãi suất xác định và có ghi rõ ràng thời gian hoàn trả. Vì loại giấy tờ này được phát hành khi nguồn huy động vốn tiết kiệm của ngân hàng bị hạn chế nên lãi suất được trả thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn. − Tiền gửi từ việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ủy thác Dịch vụ ủy thác là việc các ngân hàng sẽ thực hiện quản lý tài sản hoặc quản lý các hoạt động đầu tư tài chính cho KHCN. Ngân hàng sẽ thu phí dịch vụ này theo phần trăm quy định trên giá trị của tài sản đó hay lượng vốn đầu tư mà ngân hàng đã quản lý.
Dịch vụ này giúp khách hàng vừa tiết kiệm một khoản tiền, vừa được các chuyên viên có kinh nghiệm giúp đầu tư sinh lợi khoản tiền ban đầu, từ đó nguồn vốn được tích lũy ngày càng tăng. Hiện nay ở những quốc gia phát triển, dịch vụ này được sử dụng khá phổ biến và đã giúp cho ngân hàng thu về một khoản lợi nhuận khá lớn. Khái niệm về khách hàng cá nhân và tiền gửi KHCN được xem là một người mà đã, đang hoặc sẽ sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu của bản thân hoặc gia đình họ. Thông thường, nhu cầu và mục đích của KHCN rất đa dạng và thay đổi liên tục theo xu hướng phát triển của thị trường (Trương Quang Thông, 2018).
Bên cạnh đó, KHCN được xem là đối tượng mà ngân hàng thường chú trọng nhiều nhất trong việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi để có thể thực hiện được các hoạt động kinh doanh của ngân hàng (Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc, 2011). Theo Trần Huy Hoàng (2011), nguồn vốn tiền gửi được hiểu là một trong những nguồn vốn phải trả của ngân hàng. Đó là một nguồn vốn huy động của cá nhân, tổ chức thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ hoặc các nghiệp vụ khác. Nguồn vốn này được xem là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nó chiếm phần lớn trong tỷ trọng tổng nguồn vốn kinh doanh của các NHTM.