Chương 1: Tổng quan về thẻ tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng khi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân. - Chương 2: Phân tích các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng khi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Tp. Hồ Chí Minh. - Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân tại Tp.
Hồ Chí Minh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN NGÂN HÀNG KHI SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.1Tổng quan về thẻ tín dụng 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ tín dụng trên thế giới Sự ra đời của tiền tệ và sau đó là tiền điện tử đã làm thay đổi bộ mặt của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Chiếc thẻ đầu tiên đánh dấu cuộc cách mạng về thẻ tín dụng bắt nguồn từ một tình huống khá thú vị. Vào năm 1949, sau khi ăn tối ở một nhà hàng, doanh nhân Mỹ Frank Mc Namara phát hiện không mang theo tiền mặt và phải gọi điện cho người nhà mang tiền đến trả.
Lúc đó ở Mỹ, các loại thẻ mua hàng, mua xăng đã phổ biến nhưng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch. Từ những bất cập trên, Frank đã sáng tạo ra thẻ “Diners Club”, một loại thẻ tín dụng đầu tiên trên thế giới. Với lệ phí hàng năm là 5USD, những người mang thẻ “Diners Club” có thể ghi nợ khi đi ăn ở 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phốNew York. Chính vì sự tiện lợi của Diners Club cũng như sự ưa thích của cả chủ thẻ lẫn ĐVCNT nên đến năm 1955, hàng loạt các loại thẻ tương tự ra đời, như: Trip Charge, Goldenkey, Gourment, Guest Club, Esquire Club, American Express.
Trong giai đoạn này, phần lớn thẻ dành cho giới doanh nhân giàu có, những người có thu nhập cao. Sau đó, các ngân hàng đã cảm nhận rằng giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu trong tương lai nên bắt đầu để ý đến phân đoạn thị trường rộng lớn này. Khi tầng lớp bình dân bắt đầu sử dụng thẻ Bank Americard do Bank of American phát hành (vào năm 1960) thì việc kinh doanh của ngân hàng này trở nên phát đạt và các ngân hàng thương mại khác bắt đầu chạy đua phát hành thẻ tín dụng. Năm 1967, Bank Americard gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của Mastercharge (do tổ chức Western States Bankcard Association phát hành).
Từ đây, kinh doanh loại hình dịch vụ mới này phát triển rầm rộ không chỉ trên đất Mỹ. Để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phù hợp với sự phát triển này, Bank Americard đã trở thành VISA USA (1977) và sau đó là Tổ chức VISA Quốc tế còn Mastercharge trở thành Tổ chức Mastercard Quốc tế (1979). Nhận ra rằng người tiêu dùng không e ngại việc trả lãi từ 16% đến 20% trên bảng quyết toán thẻ tín dụng của họ, các công ty viễn thông quốc tế, công ty xe hơi, bảo hiểm, các hãng hàng không… đã tham gia thị trường.Tiếp đó, thẻ JCB, AMEX cũng gia nhập và tăng cường cạnh tranh trong thị trường thẻ tín dụng.2 Khái niệm thẻ tín dụng Theo từ điển Oxford, thẻ tín dụng được định nghĩa là một thẻ nhựa phát hành bởi ngân hàng hay tổ chức tài chính cho phép chủ thẻ mua hàng hay dịch vụ trên cơ sở tín dụng. Theo bách khoa toàn thư mở Wikpedia, thẻ tín dụng là một thẻ thanh toán cho phép chủ thẻ thanh toán hàng hóa hay dịch vụ dựa trên lời hứa sẽ thanh toán lại, và người phát hành cung cấp cho chủ thẻ một hạn mức tín dụng tuần hoàn để thanh toán cho người bán hàng hoặc ứng tiền mặt trước cho chủ thẻ.
Tại Việt Nam, theo Điều24 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết địnhsố 22/QĐ-NH1 ngày 21-02-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thẻ tín dụng được đề cập đến là một trong những hình thức của thẻ thanh toán và được mô tả như sau “do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động” và “Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng đồng ý cho vay tiền. Khách hàng chỉ được thanh toán số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận bằng văn bản.” Theo khoản 5 Điều 2 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15-5- 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có định nghĩa “Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vihạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Trong đó, khái niệm “giao dịch thẻ” được hiểu là “việc sử dụng thẻ để gửi, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng”. Trong nghiên cứu này, căn cứ vào những thuộc tính cơ bản của thẻ tín dụng và các khái niệm mà các tác giả đã nêu, khái niệm về thẻ tín dụng đưa ra như sau: “Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán do ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận với chủ thẻ để đáp ứng các nhu cầu tín dụng, thanh toán trong một hạn mức tín dụng nhất định thông qua việc xác lập quan hệ thanh toán giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT), đồng thời cũng xác lập quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ với tổ chức đã phát hành thẻ”.
Theo đó, tổ chức phát hành thẻ sẽ ứng tiền trước cho đơn vị chấp nhận và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ trả dần số tiền thanh toán trong tài khoản bằng cách thanh toán một số dư tối thiểu trước ngày đáo hạn ghi rõ trên bảng sao kê giao dịch hàng tháng mà không phải thanh toán toàn bộ số dư. Chủ thẻ trong trường hợp thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn thì sẽ được miễn lãi hoàn toàn, nếu không chủ thẻ sẽ chịu một mức lãi suất phạt quá hạn tính cho toàn bộ số dư nợ còn lại. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả lại cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục lại như ban đầu.
Đây là tính chất “tuần hoàn” của thẻ tín dụng.3 Đặc điểm của thẻ tín dụng Thứ nhất, thẻ tín dụng luôn gắn liền với một chủ thể nhất định. Chủ thể này chính là chủ sở hữu của thẻ tín dụng. Tên và có thể là hình ảnh của chủ thẻ được in ngay trên thẻ và chủ thẻ cũng phải ký tên lên mặt sau của thẻ ngay khi nhận thẻ trước sự chứng kiến của nhân viên tổ chức phát hành thẻ (TCPHT). Thứ hai, thẻ tín dụng được phát hành từ một thỏa thuận giữa chủ thẻ với TCPHT.
Thỏa thuận này có hình thức pháp lý là hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Để đi đến ký kết được hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, chủ thẻ phải chứng minh được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 năng lực chủ thể, khả năng tài chính, khả năng trả nợ của mình. Là một đơn vị kinh doanh chuyên nghiệp về trung gian thanh toán và tín dụng, TCPHT sẽ đặt ra các điều kiện để thẩm định các khả năng này của chủ thẻ. Thứ ba, thẻ tín dụng luôn gắn liền với một tài khoản ngân hàng nhất định.
Đó là tài khoản của chính chủ thẻ mở tại TCPHT nếu TCPHT cũng là ngân hàng, hoặc tại một ngân hàng mà TCPHT ủy quyền nếu TCPHT không phải là ngân hàng. Thứ tư, thẻ tín dụng làm phát sinh quan hệ cam kết thanh toán “liên hoàn”. Cam kết thanh toán “liên hoàn” là các cam kết thanh toán của các tổ chức trung gian cho ĐVCNT. Thứ năm, thẻ tín dụng làm phát sinh quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ với TCPHT.4 Phân loại thẻ tín dụng 1.1 Theo phạm vi sử dụng thẻ Thẻ tín dụng nội địa Là loại thẻ có phạm vi sử dụng được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, có và cơ sở chấp nhận thẻ thuộc cùng một nước, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút tiền mặt phải làđồng nội tệ.
Thẻ tín dụng quốc tế Là loại thẻ do các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế phát hành, được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý bởi những tổ chức tài chính lớn như Master Card, VISA hoặc các công ty điều hành như AMEX, JCB, Diners Club… hoạt động theo một hệ thống thống nhất, đồng bộ.2 Theo đối tƣợng sử dụng Thẻ cá nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Là thẻ được phát hành cho cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ và có khả năng đáp ứng các điều kiện phát hành thẻ, gồm có hai loại là thẻ chính và thẻ phụ: - Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ chính. - Thẻ phụ: chủ thẻ chính xin phát hành thẻ phụ cho người khác sử dụng. Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm toàn bộ chi tiêu của thẻ phụ.
Thẻ công ty Là loại thẻ dùng cho công ty để thanh toán cho hoạt động kinh doanh của mình. Công ty đứng tên ký hợp đồng sử dụng thẻ và ủy quyền cho người đứng tên trên thẻ tín dụng sử dụng và công ty sẽ thanh toán mọi giao dịch liên quan đến thẻ.3 Theo hạn mức tín dụng Thông thường, hạn mức tín dụng của thẻ được phân ra thành nhiều cấp khác nhau tùy từng ngân hàng, trong đó hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà chủ thẻ được phép sử dụng trong một chu kỳ tín dụng. Nhìn chung ở Việt Nam có ba cấp: - Thẻ chuẩn: hạn mức tín dụng tối đa là 50.000 VND - Thẻ vàng: hạn mức tín dụng từ 50.000 VND - Thẻ bạch kim: hạn mức tín dụng từ 300.000 VND trở lên.