Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và đề xuất các gợi ý chính sách 1. Giới thiệu các nghiên cứu trước đây 1. Các nghiên cứu trên thế giới Khả năng sinh lời là yếu tố không thể thiếu đối với những doanh nghiệp khi đi vào hoạt động. Một nhà quản trị cần phải có cái nhìn bao quát, những định hướng đúng đắn và đánh giá được những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp? Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó ra sao? Điều đó đã phần nào lý giải được tại sao trước đây có khá nhiều những nghiên cứu về khả năng sinh lời nói chung và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp nói riêng.
Cùng đi tìm hiểu các phương pháp nghiên cứu, phương trình nghiên cứu và kết quả của các nghiên cứu thông qua các mô hình nghiên cứu dưới đây: Một nghiên cứu của N.Sivathaasan và các cộng sự (2013) về các yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời của các công ty sản xuất được niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán Colombo, Sri Lanka. Số liệu được sử dụng là các công ty sản xuất được niêm yết trên Sở giao dịch Colombo trong 5 năm từ 2008 đến 2012. Nghiên 5 cứu thông qua 2 phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy đa biến để chứng minh các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bao gồm cấu trúc vốn, vốn lưu động, lá chắn thuế, quy mô công ty, tốc độ tăng trưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn và lá chắn thuế có tác động thuận chiều đáng kể đến khả năng sinh lời, còn các biến độc lập còn lại như vốn lưu động, tốc độ tăng trưởng và quy mô của công ty không tác động đến khả năng sinh lời.
Một nghiên cứu của Tharshiga Murugesu (2013) về ảnh hưởng của nợ đến khả năng sinh lời của các công ty thuộc lĩnh vực khách sạn được niêm yết tại SriLanka. Mẫu được chọn là 11 công ty về lĩnh vực khách sạn được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Colombo tại SriLanka trong 5 năm từ 2008 đến 2012. Trong đó, các yếu tố nợ tác động đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bao gồm nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, nợ dài hạn trên tổng tài sản, tổng số nợ phải trả trên tổng tài sản. Qua phân tích ma trận tương quan và hồi quy đa biến thì có thể kết luận rằng: Nợ dài hạn không tác động đến khả năng sinh lời của các công ty thuộc lĩnh vực khách sạn, chỉ có nợ ngắn hạn và tổng nợ phải trả trên tổng tài sản có tác động đến khả năng sinh lời của các công ty này.
Trong đó nợ ngắn hạn có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời, tổng nợ phải trả trên tổng tài sản cũng có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời. Trong nghiên cứu của Narjes Malakan & ParvizSaeidi (2013) về mối quan hệ giữa đổi mới và tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Tehran từ năm 2006 đến 2012. Qua phân tích thống kê mô tả và hồi quy bội thì có thể kết luận rằng: tỷ lệ doanh thu hàng tồn kho, tỷ lệ hàng tồn kho trên tài sản ngắn hạn, sự chênh lệch giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động. Trong đó, tỷ lệ doanh thu hàng tồn kho, tỷ lệ hàng tồn kho trên tài sản ngắn hạn, chênh lệch giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh, quy mô công ty, tỷ lệ đòn bẩy trên tổng tài sản được nghiên cứu trước đó cho rằng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản.
Cụ thể hơn, kết quả công bố đã chỉ ra tỷ lệ doanh thu hàng tồn kho có mối quan hệ cùng chiều với tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động; tỷ lệ hàng tồn kho trên tài sản ngắn hạn và sự khác nhau giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh có mối quan hệ ngược chiều với tỷ 6 suất sinh lời của tài sản hoạt động. Điều đó dẫn đến việc tăng tỷ lệ doanh thu hàng tồn kho dẫn đến sự gia tăng tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động, đòi hỏi việc giảm hàng tồn kho trên tài sản ngắn hạn đã làm tăng tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động và sự khác nhau giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh làm giảm tỷ suất sinh lời của tài sản hoạt động. Một nghiên cứu của Paul Aondona Angahar và Agbo Alematu (2014) về tác động của vốn lưu động đối với khả năng sinh lời của nền công nghiệp xi măng ở Nigeria với phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở đây là là thống kê mô tả và phân tích hồi quy đa biến. Mẫu được chọn là 4 trên 5 công ty ngành xi măng được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nigeria trong 8 năm từ 2002 đến 2009.
Trong đó, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản như thời gian thu tiền bình quân, thời gian lưu kho bình quân, độ dài chu kỳ vận động của vốn, hệ số nợ trên tài sản. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng thời gian thu tiền bình quân không tác động đến khả năng sinh lời của các công ty xi măng và chỉ có thời gian lưu kho bình quân, độ dài chu kỳ vận động của vốn và hệ số nợ trên tài sản là những yếu tố tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các công ty này. Trong đó, thời gian thu tiền bình quân và thời gian lưu kho bình quân có mối quan hệ ngược chiều đối với khả năng sinh lời; độ dài chu kỳ vận động của vốn có mối quan hệ cùng chiều đối với khả năng sinh lời. Một nghiên cứu của Hina Agha (2014) về tác động của việc quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lời tại Pakistan đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là vòng quay khoản phải trả, vòng quay khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho, tỷ lệ thanh toán hiện hành.
Nghiên cứu thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan và hồi quy tuyến tính đã được bài viết này sử dụng. Một mẫu được nghiên cứu là những công ty trong thời gian từ năm 2006 đến 2010 được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tehran. Theo kết quả công bố cho thấy rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải trả và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, nhưng không có mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh toán hiện hành và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Do đó, từ kết quả trên công ty có thể bằng cách tăng vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho và giảm vòng quay các 7 khoản phải trả, để tăng khả năng sinh lời của mình, còn tỷ lệ thanh toán hiện hành thì không ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty.
Vì vậy, kết quả của các nghiên cứu chỉ ra rằng: Thông qua việc quản lý vốn lưu động một cách thích hợp, các công ty có thể gia tăng lợi nhuận của mình. Nghiên cứu trên đây sẽ rất có lợi và đóng góp kiến thức vào việc làm thế nào để các công ty dược phẩm quản lý vốn lưu động của họ một cách hiệu quả nhất để gia tăng lợi nhuận cho công ty. Một nghiên cứu của Mohamed M. Khalifa Tailab (2014) sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để điều tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lời của các công ty ngành năng lượng tại Mỹ.
Một mẫu của 30 công ty ngành năng lượng tại Mỹ trong thời gian 9 năm từ 2005 đến 2013 đã được xem xét với dữ liệu thứ cấp được thu thập trực tuyến từ các báo cáo tài chính của 30 công ty trên. Các yếu tố được chọn bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tổng nợ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, quy mô về mặt doanh thu của công ty, quy mô về mặt tài sản của công ty. Kết quả chính đã chỉ ra rằng tổng nợ có tác động ngược chiều đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Một mối quan hệ không đáng kể hoặc là ngược chiều hay cùng chiều đã được quan sát giữa nợ dài hạn, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và quy mô của tổng tài sản đến khả năng sinh lời.
Những kết quả trên cũng không thể hiện được chính xác một cách tổng quát vì kích thước mẫu chưa thật sự đủ lớn. Vì vậy, nó có thể là bài học để có thể thực hiện một nghiên cứu tương tự bằng cách phân tích các yếu tố cấu trúc vốn khác. Một nghiên cứu khác của Mohamed M. Tailab (2014) về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính tại Mỹ bằng cách lấy dữ liệu của 100 công ty phi tài chính được niêm yết và dẫn đầu trong bảng xếp hạng 500 công ty lớn nhất tại Mỹ (Fortune 500) qua 5 năm từ năm 2009 đến năm 2013.
Trong đó, các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bao gồm đòn bẩy tài chính, thanh khoản, hàng tồn kho, tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng, tổng tài sản, tổng doanh thu bán hàng, tuổi của công ty. Qua phương pháp thống kê mô tả và hồi quy đa biến có thể kết luận rằng: Đòn bẩy tài chính, hàng tồn kho, tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng và tuổi của công ty có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể với khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính, trong khi thanh khoản và quy mô về tổng doanh thu bán hàng có ảnh hưởng thuận chiều 8 đáng kể với khả năng sinh lời của các công ty này. Tuy nhiên, một mối quan hệ ngược chiều không đáng kể đã được tìm thấy giữa quy mô về tổng tài sản với khả năng sinh lời của các công ty phi tài chính tại Mỹ.