Chương 1 giới thiệu tổng quan về các nghiên cứu trước đây. Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình lý thuyết. Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu giới thiệu về các mô hình xác định các yếu tố tác động đến KQHT, một số lý thuyết về động cơ học tập, kiên định học tập,.
và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố này với KQHT, phát triển mô hình nghiên cứu cơ bản của đề tài. Nội dung sau đây sẽ xây dựng các giả thuyết phụ trên cơ sở các biến kiểm soát bao gồm: giới tính, nơi cư trú. Những mô hình xác định các yếu tố tác động đến KQHT Xét về mặt tổng thể, có 3 nhóm yếu tố chính tác động đến KQHT của SV. Đó là đặc điểm của người học, điều kiện gia đình và tài nguyên của nhà trường.
Các nghiên cứu tập trung vào khảo sát các yếu tố tác động đến KQHT của SV còn ít. Tuy nhiên, các nghiên cứu này rất đa dạng và mỗi nghiên cứu có mục tiêu và phương pháp nghiên cứu riêng. Sau đây, giới thiệu các mô hình tiêu biểu nghiên cứu về các yếu tố chính tác động đến KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani Theo Bratti và Staffolani (2002), KQHT của SV chủ yếu được xác định bởi thái độ học tập của SV bởi vì sự phân bổ thời gian cho việc học tùy thuộc vào quyết định của họ.
Họ có thể quyết định thời gian tối ưu dành cho việc tự học và học ở lớp. Do đó, KQHT của SV phần lớn phụ thuộc vào thái độ học tập của họ. Gọi Gi là KQHT của SV, phụ thuộc vào thời gian dành cho việc tự học (Si), thời gian học ở lớp (ai) và năng lực của người đó (ei). Nó cho thấy ở mức độ hữu dụng nhất định, KQHT của SV tùy thuộc vào thời gian tự học, thời gian học ở lớp và năng lực của SV.
Theo phương pháp này, giáo dục vừa 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sự tiêu dùng vừa là sự đầu tư tốt. Trong khi SV dành thời gian cho giáo dục đại học, thì anh ta cũng tự đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của mình. Trong mô hình Bratt và Staffolani, đặc điểm của SV đóng vai trò chính là yếu tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến KQHT của SV. Đây là ưu điểm của mô hình bởi vì nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố tự học, điểm khác biệt chính giữa SV đại học và học sinh trung học.
Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là xem nhẹ vai trò của các yếu tố bên ngoài mà nó cũng có ảnh hưởng đến KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Checchi et al. Mô hình này được xác định bởi Checchi & ctg (2000) nhằm dự đoán về mối quan hệ giữa đầu tư cho giáo dục của cha mẹ và KQHT của con cái. Cơ sở của mô hình này là cha mẹ phải dành một phần thu nhập của mình đầu tư vào việc học tập của con cái.
Nếu việc đầu tư vào việc học cho con cái tăng lên, tiêu dùng của cha mẹ sẽ giảm đi nhưng thu nhập tương lai của con cái sẽ tăng lên. P = P(A,E,S,Yf) Từ phương trình trên cho ta thấy mô hình này chỉ ra rằng cả điều kiện gia đình đại diện là thu nhập của gia đình (Yf), số tiền đầu tư cho giáo dục của người con (S) và đặc điểm của SV đại diện là trí thông minh (A), mức độ cố gắng (E) tác động tích cực đến KQHT của SV. Ứng dụng vào trường hợp SV học đại học, cho dù SV hoàn toàn độc lập và có trách nhiệm về KQHT của họ nhưng nguồn lực gia đình vẫn có ảnh hưởng mạnh lên KQHT của SV. Mô hình ứng dụng của Dickie Dựa vào kết quả nghiên cứu của Dickie (1999) đã xác lập một mô hình nghiên cứu về tác yếu tố tác động đến KQHT như sau: A*= A* (F,S,K,α) Trong đó, đặc trưng gia đình (F), nguồn lực của nhà trường (S), đặc điểm của người học (K) và năng lực cá nhân (α ) là các yếu tố tác động đến KQHT của người học.
Điều này có ý nghĩa KQHT của người học là kết quả của mối quan hệ hỗ tương của ba nhóm yếu tố đại diện là gia đình, nhà trường và người học. Đây là mô hình thông dụng nhất vì nó bao hàm ảnh hưởng của ba nhóm yếu tố trên. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba mô hình được giới thiệu có phạm vi nghiên cứu khác nhau. Trong mô hình Bratti và Staffolani, tác giả chỉ nhấn mạnh ảnh hưởng của đặc điểm SV.
Tiếp đến, mô hình Checchi et al. chỉ ra ảnh hưởng của cả đặc điểm SV và đặc trưng gia đình lên KQHT. Sau đó, mô hình Dickie khảo sát ảnh hưởng của 3 tác nhân tác động đến KQHT của SV đó là gia đình, nhà trường và người học. Một số lý thuyết và giả thuyết 2.
KQHT của SV KQHT là kiến thức, kỹ năng thu nhận của SV là mục tiêu quan trọng nhất của các trường đại học cũng như của SV. Các trường đại học cố gắng trang bị cho SV những kiến thức và kỹ năng (gọi chung là kiến thức) họ cần. SV vào trường đại học cũng kỳ vọng họ sẽ thu nhận những kiến thức cần thiết để phục vụ quá trình làm việc và phát triển sự nghiệp của họ. Có những quan điểm và cách thức đo lường KQHT của SV trong học tập tại các trường đại học.
KQHT có thể được đo lường thông qua điểm của môn học (Hamer, 2000 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. KQHT cũng có thể do SV tự đánh giá về quá trình học tập và kết quả tìm kiếm việc làm (Clarke & ctg, 2001 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. Trong nghiên cứu này, KQHT của SV được định nghĩa là những đánh giá tổng quát của chính SV về kiến thức và kỹ năng họ thu nhận được trong quá trình học tập các môn học cụ thể tại trường (Young & ctg, 2003 - trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. Động cơ học tập của SV Khái niệm động cơ dùng để giải thích vì sao con người hành động, duy trì hành động của họ và giúp họ hoàn thành công (Pintrich, 2003 – trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr.
Động cơ giúp thiết lập và làm gia tăng chất lượng của quá trình nhận thức và điều này làm dẫn đến thành công. Có nhiều mô hình về động cơ, tuy nhiên ba yếu tố tổng quát sau đây hiện diện trong hầu hết các mô hình về động cơ. Yếu tố thứ nhất là giả thuyết phụ, dùng để biểu thị niềm tin về khả năng hay kỹ năng để hoàn thành công việc của con người. Yếu tố thứ hai là giá 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị, dùng để biểu hiện niềm tin về tầm quan trọng, sự thích thú và lợi ích của công việc.
Yếu tố thứ ba là cảm xúc, dùng để thể hiện cảm xúc của con người thông qua phản ứng mang tính cảm xúc về công việc (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. Trong giáo dục, sự khác biệt về khả năng cũng như động cơ học tập của SV ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và giảng dạy đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung trong nhiều năm. Động cơ học tập của SV (gọi tắt là động cơ học tập) được định nghĩa là lòng ham muốn tham dự và học tập những nội dung của môn học hay chương trình học. Việc xây dựng và đo lường khái niệm động cơ học tập thường dựa vào phương pháp tự đánh giá hiệu quả.
Trong khi khả năng học tập phản ánh năng lực của SV trong học tập, động cơ học tập là quá trình quyết định của SV về định hướng, mức độ tập trung và nổ lực của SV trong quá trình học tập. KQHT của SV sẽ gia tăng khi động cơ học tập của họ cao vì mức độ cam kết vào việc tích lũy kiến thức và ứng dụng những chiến lược học tập có hiệu quả (Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr. Vì vậy, động cơ học tập ảnh hưởng rất lớn đến KQHT của SV, giả thuyết sau đây được đề nghị. Giả thuyết H1: Có mối tương quan thuận giữa động cơ học tập và KQHT của SV 2.
Tính kiên định trong học tập Những trở ngại về tâm lý, ví dụ như căng thẳng (stress), có thể ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc và học tập của con người. Để khắc phục những trở ngại về tâm lý này, con người cần có tính kiên định cao trong cuộc sống. Tính kiên định là một khái niệm tiềm ẩn thể hiện thái độ của con người thông qua sự cam kết, kiểm soát và thử thách trong cuộc sống (Britt & ctg, 2001 – trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr. Cam kết thể hiện qua việc dồn hết tâm trí và sức lực khi tham gia một công việc hay đối phó với một vấn đề nào đó.
Kiểm soát nói lên xu hướng chịu đựng và hành động tích cực của một cá nhân khi đương đầu với những bất trắc xảy ra. Thử thách biểu thị niềm tin về sự thay đổi trong cuộc sống. Thay đổi là động lực 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hấp dẫn, không phải là mối đe dọa cho sự phát triển (Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr. Nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục cho thấy việc tham gia học tập tại các trường đại học là một trong những công việc gây nhiều căng thẳng nhất.
Trong quá trình học tập, SV không những tập trung vào việc học, ví dụ như hoàn thành bài đọc, bài tập, dự án, thi cử, vv., mà phải quan tâm đến nhiều vấn đề cá nhân khác như tài chính, làm thêm ngoài giờ, hoạt động xã hội, vv.Vì vậy, tính kiên định trong học tập đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của SV. Kiên định học tập thể hiện qua SV dành hết tâm trí và sức lực (cam kết), chịu đựng và hành động tích cực (kiểm soát) và đón nhận thay đổi (thử thách) trong quá trình học tập và sinh hoạt của mình tại trường đại học (Nguyễn Đình Thọ, 2010, tr. Tính kiên định giúp cho con người nâng cao được hiệu quả công việc và sức khỏe khi thi đấu với những căng thẳng trong công việc. Tính kiên định cũng giúp con người biến đổi những căng thẳng trong cuộc sống, giúp chuyển đổi những vấn đề tạo nên căng thẳng thành những vấn đề thông thường cần giải quyết hoặc biến chúng thành cơ hội cho sự phát triển.