Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày các vấn đề gồm: lý do nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu để định hướng cho các chương tiếp theo của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính của công ty chứng khoán. Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận dựa trên việc tổng hợp lý thuyết về hiệu quả tài chính và công trình nghiên cứu trên thế giới để làm nền tảng nghiên cứu chương 3 tiếp theo.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu. Tác giả xây dựng mô hình dựa trên kết quả chương 2. Để tiến hành phân tích mô hình, tác giả cần xác định rõ các biến, thiết lập các dạng hàm mô hình nghiên cứu và đưa ra giả thuyết nghiên cứu cụ thể. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Từ mô hình nghiên cứu đã xây dựng ở chương 3, tác giả trình bày các vấn đề gồm mô tả thống kê, mô tả hệ số tương quan, kết quả phân tích hồi quy. Chương 5: Kiến nghị nâng cao hiệu quả tài chính của CTCK. Tác giả đề xuất một số kiến nghị đối với CTCK và Nhà nước sau khi phân tích và xác định được yếu tố tác động mạnh đến hiệu quả tài chính ở các chương trước đó. Ý nghĩa thực tiễn Thứ nhất, kết quả của nghiên cứu của đề tài xác định được các yếu tố tác động có ý nghĩa đến hiệu quả tài chính của CTCK bằng cách phân tích mô hình nghiên cứu.
Thứ hai, nghiên cứu trở thành cơ sở tham khảo giúp nhà quản lý đưa ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả, phù hợp với tình hình hoạt động của công ty. Thứ ba, nghiên cứu không chỉ là bổ sung tài liệu tham khảo cho nhà nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực chứng khoán mà còn làm cơ sở cho các nghiên cứu tương tự ở các ngành khác tại Việt Nam như bất động sản, tài chính, xuất nhập khẩu,… Thứ tư, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng trong việc đưa ra những tiêu chí, chính sách giúp cho thị trường phát triển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2. Các khái niệm liên quan 2.
Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính là một phần của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Do đó, hiệu quả tài chính cũng là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế. Để đánh giá chính xác và có cơ sở khoa học hiệu quả tài chính cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thống kê cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu đầy đủ, hoàn chỉnh vừa phản ánh một cách tổng hợp, vừa phản ánh được mức sinh lợi, và phản ánh hiệu quả của từng yếu tố sản xuất, từng loại vốn đầu tư,. Để đảm bảo yêu cầu trên, thống kê thường sử dụng hai phương pháp tổng quát để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm phương pháp thứ nhất hiệu quả kinh doanh là hiệu số của kết quả đầu ra trừ chi phí đầu vào và phương pháp thứ hai hiệu quả kinh doanh là tỷ số của kết quả đầu ra so với chi phí đầu vào.
Phương pháp thứ nhất: Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định dưới dạng hiệu số Công thức Hiệu quả hoạt động SXKD = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào[3] Phương pháp này đơn giản, dễ tính nhưng có những mặt hạn chế nhất định, nó không phản ánh hết chất lượng kinh doanh, cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không thể dùng để so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp qua các thời kỳ nghiên cứu khác nhau. Phương pháp thứ hai: Hiệu quả hoạt động SXKD được xác định bằng cách so sánh theo 2 dạng: Dạng thuận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo phương pháp này, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh phản ánh mức sinh lợi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Kết quả đầu ra Hiệu quả hoạt động kinh doanh = [3] Chi phí đầu vào Dạng nghịch Chi phí đầu vào [3] Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả đầu ra Chỉ tiêu này phản ánh, để tạo ra được 1 đơn vị kết quả đầu ra ta cần bao nhiêu đơn vị chi phí đầu vào. Đối với công ty chứng khoán, kết quả đầu ra chính là tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của công ty gồm: Doanh thu môi giới chứng khoán: phí môi giới chứng khoán cho nhà đầu tư; Doanh thu mua quyền bán chứng khoán, ứng trước tiền bán: dịch vụ cung cấp hỗ trợ cho nhà đầu tư; Doanh thu hoạt động tự doanh: tiền lãi khi mua bán các mã chứng khoán của bộ phận tự doanh; Doanh thu hoạt động tư vấn: phí tư vấn đầu tư, phát hành trái phiếu cổ phiếu, đại hội cổ đông…của các công ty ký hợp đồng tư vấn với công ty chứng khoán; Doanh thu khác: lãi tiền gửi ngân hàng, thanh lý tài sản,… Còn đối với chi phí đầu vào của công ty chứng khoán gồm toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, cụ thể như sau: Chi phí hoạt động kinh doanh: lỗ khi mua bán các mã chứng khoán, phí thành viên đối với các sở giao dịch và trung tâm lưu ký, phí đường truyền kết nối với các sở và trung tâm lưu ký, thuê văn phòng – chi nhánh,.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: lương cán bộ công nhân viên, tiền đóng bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên, mua bảo hiểm rủi ro tài sản,… 2. Các chỉ số đánh giá hiệu quả tài chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hiệu suất sử dụng tài sản doanh nghiệp Doanh thu và thu nhập cũng là chỉ tiêu phản ánh kết quả của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản trong trường hợp này được thể hiện: DT thuần + DT hoạt động tài chính + Thu nhập khác Hiệu suất sử dụng tài sản = [5] Tổng tài sản bình quân Trong trường hợp trên, nếu sử dụng chỉ tiêu tài sản trong bảng cân đối kế toán thì các yếu tố thể hiện kết quả ở tử số bao gồm doanh thu thuần và thu nhập các hoạt động khác. Yêu cầu này nhằm đảm bảo tính phù hợp vì thực tế tài sản tại doanh nghiệp không chỉ sử dụng cho hoạt động kinh doanh mà còn cho các hoạt động khác.
Nếu chỉ xem xét hiệu suất sử dụng tài sản trong lĩnh vực kinh doanh thuần túy thì chỉ tính doanh thu thuần trong lĩnh vực kinh doanh để thể hiện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản trong trường hợp này còn gọi là số vòng quay của tài sản. Nó được xem xét trên mối quan hệ giữa tài sản với doanh thu thuần và được tính như sau: DT thuần Số vòng quay của tài sản = [5] Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu trên phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh, nhưng cũng phụ thuộc vào trình độ, khả năng quản lý, tổ chức sản xuất của từng doanh nghiệp. Chỉ tiêu trên thể hiện một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu doanh thu và như vậy nó thể hiện khả năng, hiệu quả quản lý của doanh nghiệp.
“Tổng tài sản” tính trong công thức trên bao gồm cả TSCĐ - một loại tài sản mà thời gian luân chuyển hoàn toàn khác với thời gian luân chuyển của TSNH. Chỉ tiêu số vòng quay tài sản không đánh giá tốc độ luân chuyển của các TSCĐ, nó thể hiện một vòng quay không đầy đủ do các loại tài sản khác nhau. "Doanh thu thuần" trong công thức trên trích từ Báo cáo kết quả kinh doanh và chỉ tính phần doanh thu thuần trong hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu "Tổng tài sản" được sử dụng phù hợp với kết quả của doanh thu, có nghĩa là nó không bao gồm tài sản dùng cho các hoạt động khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chỉ tiêu khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp Chỉ tiêu khả năng sinh lời được đo lường bằng tỷ số giữa lợi nhuận với các chỉ tiêu kết quả hoặc giữa lợi nhuận với phương tiện của doanh nghiệp. Trong phần này, tác giả đề cập đến hai chỉ tiêu phổ biến: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kết quả của doanh nghiệp, một bên là lợi nhuận, một bên là khối lượng cung cấp cho xã hội như giá trị sản xuất, doanh thu. Trị giá của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả của doanh nghiệp càng lớn, đồng thời còn cho biết ngành hàng có tỷ suất lợi nhuận cao. Khi sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận được xác định Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế [5] = trên DT DT thuần + DT hoạt động tài chính + Thu nhập khác Như đã đề cập trong quan điểm phân tích, lợi nhuận trong công thức này có thể là lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế hoặc lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Tuy nhiên vì tỷ suất thuế thu nhập là không giống nhau đối với từng mặt hàng, từng loại kinh doanh nên để phản ánh đúng thành tích, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, cần sử dụng lợi nhuận trước thuế. Lợi nhuận trong công thức trên là tổng hợp lợi nhuận của tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận của hoạt động tài chính và hoạt động khác. Tuy nhiên, cách tính trên thường không chính xác vì mức sinh lợi của mỗi hoạt động không như nhau và hoạt động SXKD thường là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nên cần thiết tính riêng chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi từ hoạt động SXKD. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần SXKD Tỷ suất này được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận chỉ trong lĩnh vực kinh doanh thuần.
Lợi nhuận thuần [5] Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần(SXKD) = Doanh thu thuần Doanh thu thuần trong công thức này là doanh thu thuần của chỉ một hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.