Chương 1 - Giới thiệu đề tài: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2 - Cơ sở lý luận: trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu về quy trình nghiên cứu, xác định cách thức chọn và kích thước mẫu, xác định các công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập và các kỹ thuật cần thiết để phân tích dữ liệu thống kê. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: trên cơ sở các dữ liệu thu thập, thực hiện phân tích, đánh giá và diễn giải các dữ liệu đã thu thập được.
Chương 5 - Kết luận và khuyến nghị: Tóm lược những kết quả quan trọng mà nghiên cứu đã đạt được, trên cơ sở đó khuyến nghị các hàm ý chính sách nhằm nâng cao sự tham gia của người dân trong hoạt động phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố Biên Hòa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Trong Chương 2, đề tài sẽ trình bày lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến nội dung nghiên cứu. Đầu tiên, tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm về rác thải, khái niệm về quản lý rác thải, phân loại rác thải và các yếu tố cần thiết để khuyến khích người dân tham gia. Tiếp theo, để có cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ giới thiệu các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nội dung nghiên cứu.1 Khái niệm về rác thải Theo Basu (2010), rác thải được phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó các nguồn phát thải có thể kể đến như phát sinh từ hộ gia đình, từ hoạt động công nghiệp, thương mại, y tế, nông nghiệp, hạt nhân nguyên tử, khoáng chất và phát sinh từ động vật,.
Rác thải bao gồm rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại, y tế và rác thải điện tử; tất cả chúng đều được tồn tại ở 3 dạng phổ biến là rắn, lỏng và khí. Theo O’Connell (2011), rác thải là chất liệu đã qua sử dụng nên không còn giá trị trong hoạt động sản xuất, tiêu dùng và thường gắn liền với đặc điểm không sạch sẽ nên tất cả sẽ được bỏ trong thùng rác. Như vậy, rác thải là những loại không được sử dụng cho mục đích của con người. Theo văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BTNMT ngày 25/10/2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải và phế liệu: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.2 Khái niệm về quản lý rác thải Theo Wilson and Tomin (1998), quản lý rác thải không phải là một nhiệm vụ dễ dàng để có thể đạt được các mục tiêu đề ra nếu thiếu sự tham gia tích cực của các bên liên quan.
Các bên liên quan cần phải nỗ lực nhằm giảm thiểu phát sinh và quản lý rác thải theo phương thức bền vững với môi trường. Theo Visvanathan (2004), quản lý rác thải là lĩnh vực được sự quan tâm của các nước đang phát triển và thế giới. Về mặt lịch sử thì hầu hết các nước đều xử lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 rác thải bằng phương pháp chôn lấp, ở góc độ khoa học thì xử lý rác bằng phương pháp chôn lấp là không bền vững. Do đó, để đạt được sự bền vững trong yêu cầu quản lý rác thải đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận phù hợp.
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, quản lý rác thải chính là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải. Quản lý chất thải gồm 6 quá trình: phát sinh, phân loại chất thải tại nguồn, thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý chất thải; đây là một dịch vụ do chính quyền cung cấp, tuy nhiên trước năm 2000 việc quản lý chất thải được xem là vấn đề cần thiết phải có các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Kỹ thuật có xu hướng tập trung trong xử lý đơn lẻ một loại chất thải và chưa đa dạng trong công nghệ xử lý. Do đó, khi xử lý một loại chất thải cụ thể sẽ phát sinh nhiều vấn đề mới liên quan (Dijkema, 2000).
Chính vì thế, hiệu quả của công tác quản lý chất thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của một địa phương (Othman, 2013), công tác quản lý chất thải ở các nước đang phát triển trở thành ưu tiên hàng đầu cho các nhà hoạch định và ban hành chính sách (Marshall và Farahbakhsh, 2013).3 Khái niệm về phân loại CTR và lợi ích của nó Theo WB (1992), phân loại CTR là một chu trình mà chất thải được chia tách thành nhiều thành phần khác nhau, việc phân loại này có thể thực hiện theo phương thức thủ công, được thu gom bởi dịch vụ hoặc được phân loại tự động bằng máy móc. Việc phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn sẽ đóng góp rất lớn cho lợi ích kinh tế, môi trường và lợi ích xã hội, cụ thể như sau: - Lợi ích về kinh tế: hoạt động phân loại chất thải sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu sạch cho hoạt động sản xuất phân hữu cơ, tăng tỷ lệ chất thải phục vụ cho mục đích tái sử dụng, hạn chế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên sơ khai, giảm khối lượng chất thải vận chuyển, xử lý; do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển, xử lý chất thải. - Lợi ích về môi trường: phân loại chất thải tại nguồn giúp giảm khối lượng chất thải mang đi chôn lấp, giảm đáng kể lượng nước rỉ rác từ các bãi rác, giảm các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tác động tiêu cực đối với môi trường, hạn chế hiện tượng hiệu ứng nhà kính do khí thải phát sinh từ các bãi chôn lấp. Hoạt động phân loại giúp tận dụng chất thải để tái chế, tái sinh nhằm tiết kiệm và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, các sản phẩm tái chế, tái sinh này được xem như một nguồn nguyên liệu thứ cấp.
- Lợi ích xã hội: Chính hoạt động phân loại CTR tại nguồn giúp nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, khuyến khích các ngành nghề tái chế vật liệu, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động.2 Các yếu tố khuyến khích hành vi thực hiện Hành vi thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khuyến khích, động viên khi tham gia các chương trình của địa phương; trong đó, các yếu tố cần thiết để khuyến khích cộng đồng tham gia hoạt động phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn gồm: thực hiện trang bị các trạm tái chế các điểm thu gom chất thải trong cộng đồng (Lishan Xiao, 2016); điều chỉnh cách tính phí trong thu gom chất thải, hỗ trợ thực hiện hiệu quả hoạt động phân loại chất thải tại nguồn (Sakai, 2008); có hình thức khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân/đoàn thể thực hiện tốt yêu cầu phân loại, quản lý chất thải (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014); tăng cường cung cấp cơ sở hạ tầng (hỗ trợ thùng, túi đựng rác, bố trí đầy đủ thùng rác tại nơi công cộng, xây dựng các trạm xử lý, tái chế rác thải,…) Linsen (2019); cần thiết đơn giản hóa quy trình phân loại, nâng cao hiểu biết cộng đồng trong cách thức thực hiện phân loại chất thải,. Kwan, Kong và Liu (2019) đã xác định yêu cầu bảo vệ môi trường thông qua việc quản lý các câu lạc bộ nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho các thành viên đang sử dụng các dịch vụ của câu lạc bộ, phát triển bền vững phải dựa trên sự hài hòa nhu cầu giữa các bên liên quan. Vì thế, cần có sự hợp tác giữa chính phủ, các tổ chức và nhóm người trong cộng đồng. Khuyến khích cộng đồng tham gia phân loại và giảm thiểu chất thải thông qua hình thức vận động các nguồn tài trợ để trao các phần thưởng (Linsen, 2019), chính phần thưởng bằng tiền mặt sẽ là động lực quan trọng (Churchard, 2007) để những người tham gia có được sự hiểu biết và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tích cực tham gia chương trình.
Chính các phần thưởng sẽ là chìa khóa hình thành các hành vi ủng hộ môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.3 Các mô hình lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Năm 1975, lý thuyết hành động hợp lý được đề xuất bởi Ajzen và Fishbein. Lý thuyết này mô tả quá trình tâm lý phía sau hành vi của con người có ý thức nhằm khám phá các yếu tố quyết định hành vi (Ajzen và Fishbein, 1980). Theo thuyết hành động hợp lý, ý định hành vi là yếu tố quyết định hành vi hành động; vì thế để nghiên cứu hành vi trước tiên phải nghiên cứu ý định hành vi nhằm xác định các vấn đề cần giải quyết (Ajzen và Fishbein, 1975). Ý định hành vi chính là mục đích cụ thể để thực hiện một hoặc một chuỗi các hành động (Akbar và cộng sự, 2014), ý định này sẽ chịu ảnh hưởng bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan của cá nhân đó.
Thái độ chính là mức độ để đánh giá một hành động tích cực hay tiêu cực của một cá nhân. Thái độ được hình thành bởi 2 yếu tố: niềm tin cá nhân và kết quả hành động của hành vi. Con người luôn cân nhắc về kết quả đạt được trước khi thực hiện một vấn đề, đồng thời luôn chọn hành động tích cực để đạt được kết quả mong muốn. Thái độ cá nhân Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Chuẩn chủ quan Hình 2.1 “Mô hình lý thuyết hành động hợp lý - TRA Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975)” Mỗi cá nhân sẽ có cách ứng xử phù hợp với đời sống xã hội và được gọi là chuẩn chủ quan.
Mỗi cá nhân luôn quan tâm đến những đánh giá và suy nghĩ của người khác đối với hành động của mình. Trong lý thuyết hành động hợp lý, chuẩn chủ quan được xác định dựa trên niềm tin vào quy chuẩn và động lực để tuân thủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 những người xung quanh. Niềm tin vào quy chuẩn của người xung quanh chính là mức độ ủng hộ hay phản đối của những người xung quanh đối với hành vi của người đó. Mối quan hệ với người xung quanh càng mật thiết thì xu hướng ảnh hưởng của họ càng lớn (Ajzen và Fishbein, 1975).