Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa học của đề tài. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu 4 Hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến động lực lao động, các mô hình nghiên cứu trước đây và xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài. Thiết kế nghiên cứu Trình bày về quy trình và các phương pháp sử dụng cho quá trình nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả về phân tích mẫu nghiên cứu, phân tích độ tin cậy (Cronbach’s alpha), phân tích các nhân tố EFA và kết quả phân tích hồi quy và kiểm định mô hình. Kết luận và hàm ý quản trị Đưa ra các đề xuất, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Nhu cầu và động cơ Trong các tổ doanh nghiệp hiện nay, quan điểm hiện đại về nguồn lao động cũng là một nguồn lực quan trọng của doanh nghệp.
Các nhà quản trị có những thắc mắc về đội ngũ nhân viên của mình. Tại sao trong cùng một tổ chức, cùng một công việc, cùng một môi trường làm việc như nhau điều kiện làm việc như nhau, có người làm việc rất hiệu quả, thái độ làm việc tốt nhưng có người thì ngược lại. Câu hỏi đó đã được các nhà khoa học trả lời rằng chính hệ thống nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân người lao động đã quyết định nên tinh thần làm việc, động lực lao động của họ. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau [17]. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nó thúc đẩy con người hoạt động để thõa mãn cảm giác thiếu hụt của bản thân. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được hành động cá nhân [17].Uznetze người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu. Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu. Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi, ông quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác định xu hướng, tính chất hành vi. Và ông cũng cho rằng: dựa vào nhu cầu của con người để phân loại hành vi của con người.
Lomov khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến nhu cầu. Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách. “Nhu cầu cá nhân 6 là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình.
Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [1]. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa[30]. Theo định nghĩa về “Nhu cầu” của Philip Kotler (2009) trong Marketing, khái niệm nhu cầu được phân thành 02 loại: (1) Nhu cầu cấp thiết (needs) của con người là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà họ cảm nhận được.
Nhu cầu cấp thiết của con ngưòi rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn những nhu cầu xã hội như sự thân thiết gần gũi, uy tín và tình cảm cũng như các nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình (2) Nhu cầu của con người là những mong muốn kèm thêm điều kiện có khả năng thanh toán. Các mong muốn sẽ trở thành nhu cầu khi được bảo đảm bởi sức mua [47]. Tóm lại, nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó. Nhưng dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của người lao động cũng gồm hai nhu cầu chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo cho người lao động có thể sống để tạo ra của cải vật chất, thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu. Các nhà tâm lý học Nga quan niệm: Động cơ là sự phản ánh nhu cầu.
Những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác tồn tại trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra và được chủ thể nhận biết thì sẽ thúc đẩy, 7 hướng dẫn con người hoạt động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành động cơ. Động cơ là sự biểu hiện chủ quan có nhu cầu. Động cơ, theo từ điển tiếng Việt (1996), bỏ qua cách hiểu theo nghĩa kỹ thuật, “là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động”.Piaget, “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó” [53].
Theo một định nghĩa khác nữa của Lương Văn Úc (2011) có viết “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ”[4]. Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Qua các nghiên cứu, quan niệm,… tác giả thấy rằng động cơ được hiểu là sự s n sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thoả mãn được các nhu cầu cá nhân. Động lực lao động Như trên đã viết động lực thúc đẩy con người hành động.
Khi con người có động lực họ bắt tay vào làm việc một cách tự nguyện mà không cần có sự ép buộc, khi đó, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ. Động lực làm việc được thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau như sự nhiệt tình, chăm chỉ, gắn bó. Như vậy, để tạo động lực cho một người,là bạn phải kích thích cho bản thân người đó muốn làm việc đó, không phải là bắt buộc họ phải làm. Động lực lao động không xuất phát từ bất kỳ sự cưỡng chế nào, hay từ mệnh lệnh nào.
Mà nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động và được thể hiện qua hành động, thái độ làm việc. Động lực cá nhân là kết quả kết thành từ rất nhiều các yếu tố tác động trong môi trường sống, làm việc. Do vậy, động lực lao động trong tổ chức xuất phát từ các yếu tố tác động như: văn hóa tổ chức, phong cách lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức, mục tiêu các chính sách nhân lực của tổ chức và cách thức triển khai thực hiện hiện các chính sách đó. Bên cạnh đó là các yếu tố thuộc về cá 8 nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho chính họ như nhu cầu, mục đích, các giá trị, lý tưởng, hoài bão.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc, dưới đây là một số định nghĩa mà tác giả tìm hiểu được: Về “Động lực trong lao động” theo ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [5]. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn (2009, trang 85) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [2]. Theo từ điển tiếng Anh Longman: “Động lực làm việc là một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một muc tiêu mong đợi” [22].
Suy cho cùng động lực lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là làm sao tạo ra được động lực để người lao động làm việc đạt hiệu quả cáo nhất phục vụ cho tổ chức. Tạo động lực cho người lao động Nhà quản trị có trách nhiệm lãnh đạo đưa tổ chức đạt được thắng lợi những mục tiêu trong chiến lược kinh doanh mà tổ chức đề ra. Họ thực hiện nhiệm vụ này thông qua kết quả sự nỗ lực làm việc của nhân viên mà họ lãnh đạo.
Vì vậy các nhà quản trị cần phải nghiên cứu và sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động một cách hợp lý, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua hăng say làm việc trong nhân viên là mục đích nòng cốt của công tác tạo động lực. Tạo động lực cho người lao động là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc.