chương 1, tác giả đã liệt kê và phân tích sơ bộ về kết quả của các công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, nêu ra những hạn chế của các công trình này và hướng nghiên cứu mới để khắc phục những hạn chế đó tác giả đã chọn lọc được một số yếu tố khả năng tác động đến mức độ CBTT trên BCTC của các doanh nghiệp thương mại niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan về công bố thông tin (CBTT). Khái niệm về công bố thông tin.
Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK là CBTT. Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình cho công chúng đầu tư biết. Theo Sổ tay CBTT dành cho công ty niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) thì “CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời”. CBTT là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong một thời kỳ nhất định, bao gồm cả báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên (Đặng Thị Thúy Hằng, 2011).
Nhu cầu của các nhà đầu tư đối với việc CBTT đang ngày càng cao, không chỉ ở việc công bố các thông tin bắt buộc, mà còn cả việc công bố các thông tin tự nguyện. Những năm gần đây, vấn đề tự nguyện CBTT được quan tâm nhiều hơn. Tự nguyện CBTT là một khái niệm khá trừu tượng, đó là việc ngoài các thông tin cưỡng chế bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp (Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng, 2012). Nghiên cứu thông tin được công bố trên BCTC là nghiên cứu hành vi thông tin bắt buộc.
Tuy nhiên, nội dung bắt buộc trong BCTC vẫn có một số nội dung bị chi phối bởi chuẩn mực chỉ mang tính hướng dẫn. CBTT là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và làm giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adina, Ion – 2008). Do 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đó, hành vi CBTT, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn trong tình hình tài chính của từng doanh nghiệp 2.
Phân loại về CBTT * Phân loại CBTT theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện: - CBTT bắt buộc: là những công bố được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP (Generally Accepted Accounting Principles) và các chuẩn mực kế toán. - CBTT tự nguyện: là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc, có nghĩa là một doanh nghiệp có thể có hoặc không cần phải công bố các thông tin mà luật pháp không yêu cầu. * Phân loại CBTT theo thời điểm: - CBTT theo yêu cầu: Trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán nơi công ty niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty đại chúng phải công bố thông tin khi xảy ra sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư hoặc khi có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó.
- CBTT định kỳ: Là những thông tin mà chủ thể phải công bố theo định kỳ như BCTC năm, BCTC nửa năm, BCTC quý/tháng. - CBTT bất thường: Là những thông tin bất thường theo quy định cần phải công bố như tài khoản ngân hàng bị phong tỏa hay được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa và các thông tin bất thường khác. * Phân loại CBTT theo phạm vi: như CBTT đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán, CBTT theo nhóm ngành,. Đặc điểm của công bố thông tin.
Theo Tara Vishwanath & Daniel Kaufmann (1999), việc hiểu biết về tính minh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 bạch nên bao gồm các thuộc tính như sau: tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy. Chúng có thể được liệt kê chi tiết như sau: 2. Sự tiếp cận và tính liên quan. Thông tin phải trên nguyên tắc, luật lệ và các quy định bảo đảm rằng thông tin phải sẵn có để cung cấp đến tất cả những người có quan tâm, thông tin cũng phải có khả năng được tiếp cận dễ dàng.
Điều này được thực hiện một phần nhờ vào các tổ chức và các phương tiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận luồng thông tin đó. Chúng bao gồm những phương tiện truyền thông như: báo chí, phát thanh, truyền hình, bảng công bố thông tin, Internet, phát biểu bằng lời nói. Tình trạng thiếu hiểu biết có ảnh hưởng xấu đến tính minh bạch - nó giới hạn khả năng tiếp cận, diễn giải và sử dụng thông tin của một cá nhân. Tính công bằng cao sẽ bảo đảm cho nhu cầu tiếp cận thông tin.
Thông tin cần được tiếp cận một cách công bằng đối với tất cả mọi người. Tuy nhiên, việc trì hoãn hay giới hạn việc tiếp cận những thông tin hữu ích thường đem lại lợi ích cho một số người, trong trường hợp này tiếp cận thông tin trở thành “con tin” để người có thông tin bắt người muốn tiếp cận thông tin phải trả một cái giá nào đó. Do vậy việc công bố thông tin cần phải đúng thời gian và công bằng với những người muốn tiếp cận thông tin. Đảm tính liên quan, tức là phải đáp ứng đúng nhu cầu thông tin của người có nhu cầu.
Chắc chắn đây là một việc khó khăn, thứ nhất bởi vì thông tin mang tính chủ quan; người gửi tiền cần thông tin để đảm bảo tiền gửi của họ là an toàn; nhà đầu tư cần thông tin về khoản nợ và rủi ro; và công chúng cần biết về tình hình kinh tế hiện tại, chính sách tiền tệ của quốc gia … Thứ hai, sự phát triển nhanh chóng của Internet dẫn đến sự tràn ngập thông tin, lại dẫn đến một nghịch lý là chính sự quá tải thông tin có nguy cơ làm loãng đi tính liên quan của thông tin. Trong lĩnh vực chứng khoán, tính minh bạch liên quan đến những đối tượng sau: - Người công bố thông tin: doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch. - Người xử lý thông tin: các cơ quan quản lý như Ủy Ban chứng khoán, Sở Giao Dịch Chứng Khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán … 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Người sử dụng thông tin : các nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân trong nước, nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nước ngoài, các cơ quan truyền thông, những người quan tâm và muốn tham gia thị trường chứng khoán. Chất lượng và tính tin cậy của thông tin.
Thông tin phải có chất lượng và đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, không thiên vị, nhất quán và được trình bày trong những thuật ngữ rõ ràng và đơn giản. Những chuẩn mực đối với chất lượng thông tin phải được đảm bảo, có thể thẩm tra bởi những tổ chức trung gian hoặc kiểm toán bên ngoài hoặc những tổ chức tạo lập chuẩn mực. Tính nhất quán trong việc sử dụng những quy trình nhằm có được thông tin và các định dạng của thông tin được công bố bảo đảm tính có thể so sánh và cho phép việc đánh giá những sự thay đổi theo thời gian. Tiêu chuẩn và phương pháp được sử dụng để đánh giá thông tin, cũng như những thay đổi trong những phương pháp đó nên được công bố một cách đầy đủ.
Những biện pháp như vậy là cách thức quan trọng của việc ngăn chặn cố ý từ chối không cho tiếp cận thông tin hoặc làm biến dạng thông tin-như nói dối. Báo cáo không trung thực đã bị ngăn cản bởi sự hiện diện khác nhau của tổ chức “giám sát” từ các kế toán chuyên nghiệp hoặc những tổ chức trung gian, tổ chức tín dụng, báo chí độc lập, người nắm giữ tiền, những nhà nghiên cứu học thuật. Hơn thế nữa, việc đảm bảo chất lượng và tính tin cậy của thông tin thường đòi hỏi tính trung thực: đánh giá một cách chính xác tỷ số tín hiệu so với tạp âm trong một mẫu dữ liệu thường là một phương pháp và thách thức thực tiễn đối với các tổ chức, cá nhân có tiêu chuẩn đáng tin cậy cao nhất. Tóm lại tính minh bạch tốt bao gồm: cung cấp thường xuyên và kịp thời; thông tin có thể dễ dàng cho các đối tượng có liên quan tiếp cận một cách dễ dàng; thông tin đúng và hoàn chỉnh; thông tin nhất quán và có liên quan được thể hiện thành tài liệu chính thức.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Yêu cầu về CBTT. Yêu cầu về CBTT của các doanh nghiệp thương mại. Theo Chuẩn mực kế toán số 1 (VAS 1) - Chuẩn mực chung, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh được.
Theo chuẩn mực kế toán số 21 (VAS 21) - Trình bày báo cáo tài chính, báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Hệ thống BCTC (cũng như BCTC hợp nhất) của doanh nghiệp bao gồm Bảng cân đối kế toán (CĐKT), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) và Bảng Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC). Ngoài ra, doanh nghiệp phải trình bày BCTC theo Thông tư số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 về Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp. Yêu cầu về CBTT trên thị trường chứng khoán.
Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính quy định: + Việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.