Phần mở đầu: Chương này giới thiệu về lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, mô hình lý thuyết và các kết quả của những nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Tổng quan địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, tình hình sản xuất vùng nghiên cứu; đồng thời trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phân tích dữ liệu và các kiểm định.
Kết quả và thảo luận: Trình bày và phân tích dữ liệu nghiên cứu, phân tích kết quả thống kê mô tả dữ liệu dùng trong nghiên cứu, kết quả kiểm Luan van 9 định các mô hình kinh tế lượng, để giải quyết, trả lời các câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra. Kết luận và hàm ý quản trị: Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được; trên cơ sở đó đề xuất, gợi ý một số chính sách liên quan. Nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. Luan van 10 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm cơ cấu giống lúa “Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có. Cơ cấu cây trồng được xác định trên cơ sở bố trí mùa vụ, chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi và đặt ra cho ngành sản xuất trồng trọt những yêu cầu cần giải quyết” (Đào Thế Tuấn, 1984, trang 34). Tên khoa học của cây lúa là Oryzae sativa L.
thuộc họ Hòa thảo Graminae. Hạt thóc hay còn gọi là hạt lúa (paddy, rough rice) bao gồm gạo lật (brown rice – caryopsis) và trấu vốn bao bọc quanh gạo lật. (Cây lúa Việt Nam – tập III, 2011, trang 466) Chiều dài, chiều rộng và độ mảnh (thickness) của hạt thóc thay đổi trong một giới hạn rất rộng tùy theo giống lúa. Kích thước và hình dạng hạt thóc cũng như hạt gạo là chỉ tiêu chất lượng bề ngoài quan trọng của gạo và trong việc buôn bán thương mại, thường thường gạo được phân loại dựa trên kích thước (size) và hình dạng (shape) hạt gạo và độ đồng đều (uniformity) của gạo.
Từ đó có thể hiểu Cơ cấu giống lúa là thành phần các giống lúa được bố trí theo không gian và thời gian trong một vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển tỉnh Long An năm 2019, Long An có các nhóm giống lúa sản xuất như sau: Nhóm lúa thơm, đặc sản chiếm tỷ lệ 62,5%: (Đài thơm 8, Nàng Hoa 9, RVT, Tài nguyên, ST 24, VD 20, Nàng thơm và nếp (chiếm tỷ lệ 29,9%). Nhóm lúa chất lượng cao chiếm tỷ lệ 23,25%: (OM 5451, OM 4900, OM 7347, OM 6976). Nhóm chất lượng trung bình chiếm tỷ lệ 8,28%: (IR 50404, OM 1352).
Luan van 11 Theo Đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt theo Quyết định số 1898/QĐ-BNN-TT ngày 23/5/2016 định hướng cơ cấu giống như sau: “- Tập trung nghiên cứu chọn tạo các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm, có giá bán cao, cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa; chống chịu được với sâu bệnh hại chính; ưu tiên giống có thời gian sinh trưởng ngắn hoặc giống trung ngày có chất lượng cao, thơm. Các giống lúa mới được tạo chọn ngoài tính chống chịu sâu bệnh cần có tính thích nghi trong Điều kiện biến đổi khí hậu như chịu mặn, hạn, ngập úng và nóng. Các giống lúa địa phương đặc sản được bảo tồn, chọn lọc dòng thuần để cung ứng giống sản xuất gạo đặc sản phục vụ thị trường nội địa hoặc xuất khẩu diện hẹp, chuyên biệt. - Vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới thị trường xuất khẩu là chính, đồng thời quan tâm đúng mức đến thị trường nội địa; sử dụng nhóm giống lúa chất lượng cao (gạo trắng, hạt dài, thơm nhẹ hoặc không thơm) chiếm Khoảng 50%; giống lúa thơm chiếm Khoảng 25%; giống Nếp, đặc sản địa phương Khoảng 15%, giống chất lượng trung bình Khoảng 10% diện tích gieo trồng.” - Vùng Đồng bằng sông Hồng và các vùng sản xuất lúa hàng hóa còn lại hướng tới thị trường trong nước là chính; chủ yếu sử dụng các giống lúa có chất lượng gạo, cơm ngon, có giá bán cao phù hợp người tiêu dùng trong nước; tỷ lệ diện tích giống chất lượng cao, bao gồm cả nếp, japonica chiếm Khoảng 60%, giống năng suất cao Khoảng 40% diện tích gieo trồng.
- Tỷ lệ giống lúa lai chiếm Khoảng 10% diện tích lúa cả nước, ưu tiên ở vùng cần đảm bảo an ninh lương thực (miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ), vùng đất thấp ven biển, vùng lúa - tôm. Chuyển đổi cơ cấu giống Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là cải tiến hiện trạng cơ cấu cây trồng có trước sang cơ cấu cây trồng mới nhằm đáp ứng những yêu cầu sản xuất. Thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thực hiện hàng hoạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng theo những mục tiêu của xã hội (Nguyễn Duy Tính, 1995). Luan van 12 Từ đó có thể hiểu Chuyển đổi cơ cấu giống là cải tiến hiện trạng cơ cấu giống có trước sang cơ cấu giống mới nhằm đáp ứng những yêu cầu sản xuất và kinh tế.
Thực chất của chuyển đổi cơ cấu giống là thực hiện hàng hoạt các biện pháp (kinh tế, kỹ thuật, chính sách xã hội) nhằm thúc đẩy cơ cấu giống phát triển, đáp ứng theo những mục tiêu của kinh tế xã hội yêu cầu. Vai trò của chuyển đổi cơ cấu giống lúa Năng suất lúa bình quân cả nước cuối thế kỷ XIX có khoảng 1 tấn/ha. Đến nay, qua gần thế kỷ rưỡi, ta đạt tới 5 – 6 tấn/ha, do ngày một cải thiện điều kiện sản xuất, bao gồm vốn đầu tư “đầu vào” cho việc đổi mới công nghệ sản xuất, dùng giống cao sản và tăng đầu tư phân hóa học và thuốc sát trùng, cũng như cơ chế chính sách ngày một hợp lý. Từ 1878 đến 1995, người nông dân sản xuất lúa chỉ dựa vào độ màu mỡ sẵn có của đất với sức lao động của mình; hạt giống lúa tự chọn tự giữ.
Giống lúa cổ truyền cao cây, dài ngày, năng suất hạt thấp. Các giống lúa địa phương đều yếu chịu phân bón. Nền nông nghiệp với nghề trồng lúa ở ĐBSCL mới bắt đầu khoảng 300 năm trước đây nhưng tập đoàn giống lúa rất đa dạng để thích ứng với điều kiện tự nhiên phức tạp. Từ năm 1960 đến 1985, năng suất lúa đạt 2-2,8 triệu tấn/ha.
Ta nhập và sản xuất thử kết hợp nhân giống mới từ thập kỷ 60 trở đi thì vai trò của giống lúa IR và những giống tương tự ngày càng rõ rệt và trở thành nhân tố quan trọng nhất, yếu tố tiền đề để tăng năng suất và sản lượng lúa. Trong giai đoạn này là đưa vào sản xuất trên diện tích đại trà các giống lúa cao sản thấp cây ngắn ngày nhập từ Viện Lúa Quốc tế, năng suất lên 8-9-10 tấn. Hệ số tăng vụ lúa cũng tăng lên tạo điều kiện để cho nông dân tăng vụ lúa, hay luân canh. Do năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn nên sản lượng lúa tăng nhanh, Việt Nam từ nước phải nhập khẩu lương thực sang xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Thái Lan.
Ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn tiếp theo nếu không có tiến bộ về giống và kỹ thuật mới áp dụng. Luan van 13 Về sản xuất lúa, không những ta cần giống lúa chín sớm để tăng vụ và né tránh điều kiện bất thuận mà còn cần những giống lúa sống chung với lũ và những cây trồng luân xen canh. Từ 1990 đến 1999, năng suất lúa đạt từ 3,5 – 4,05 tấn 1 ha, tăng thêm 01 tấn, mất có 15 năm. Bắt đầu từ năm 1989 trở đi, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo bền vững, năm sau cao hơn năm trước, năm 2010 xuất khẩu lên đến 6,7 triệu tấn và năm 2018 là hơn 6 triệu tấn.
Ưu điểm các giống lúa mới cao sản thấp cây, ngắn ngày phát huy tác dụng cùng với diện tích gieo trồng và sản lượng tăng nhanh. Cơ cấu diện tích sử dạng các loại giống lúa trở nên ổn định hơn. Đến giai đoạn này muốn tăng năng suất và sản lượng chủ yếu dựa vào kỹ thuật canh tác, vào công nghệ sản xuất, mức độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa cao hơn là dựa vào giống năng suất cao. Từ năm 2000 đến nay, năng suất đạt từ 4 lên 5 tấn 1 ha, diện tích canh tác lúa giảm do công nghiệp hóa, tuy nhiên sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng.1: Diện tích lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 ĐVT: Nghìn ha Giai đoạn Địa bàn 2014 2015 2016 2017 2018 2014- 2018 (%) Việt Nam 7.570 -0,85 Long An 519,13 522,88 527,4 526,72 511,26 -0,63 Tân 77,83 83,24 89,86 88,21 78,34 -1,06 Hưng Luan van 14 Bảng 2.2: Sản lượng lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 ĐVT: Ngàn Tấn Địa bàn 2014 2015 2016 2017 2018 Giai đoạn 2014- 2018 (%) Việt 44.980 -0,03 Nam Long An 2.802,64 -0,25 Tân 458,43 486,92 477,88 395,64 408,28 -2,18 Hưng Bảng 2.3: Năng suất lúa 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018 ĐVT: tạ/ha Giai đoạn Địa bàn 2014 2015 2016 2017 2018 2014- 2018 (%) Việt Nam 57,5 57,6 55,8 55,5 58,1 +0,84 Long An 55,1 55,82 53,13 50,18 54,8 +0,52 Tân Hưng 58,9 58,5 53,18 44,85 52,1 -1,14 2.
Các lý thuyết liên quan đề tài nghiên cứu 2. Bản chất của thị trường lúa gạo Hệ thống tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam khá phức tạp thông qua nhiều mắt xích liên hệ giữa các đối tác khác nhau: nông dân sản xuất lúa, người thu gom lúa, cơ sở xay xát, người bán buôn, người bán lẻ và các công ty quốc doanh lương thực.