Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tri thức Theo Nonaka và Takeuchi (1995): “Tri thức là tiến trình hoạt động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân về cái mình cho là “chân lý”. Theo Davenport và Prusak (1998), tri thức là tập hợp những kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo từng hoàn cảnh cụ thể và sự hiểu biết sâu sắc của từng cá nhân để xây dựng mô hình đánh giá và kết hợp với nhau để tạo ra kinh nghiệm mới và thông tin mới. Trong các tổ chức, tri thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu và kho lưu trữ dữ liệu mà còn tồn tại trong từng thói quen, quá trình làm việc thực tế cùng với các chuẩn mực của tổ chức.
Tri thức là việc sử dụng đầy đủ các thông tin và dữ liệu kết hợp cùng với những kỹ năng, năng lực, ý tưởng, trực giác, cam kết và động lực của con người. Các công trình nghiên cứu hiện nay trên thế giới phân loại tri thức theo nhiều cách khác nhau. Trong đó phổ biến nhất là phân chia theo tri thức ẩn và tri thức hiện, tri thức cá nhân và tri thức tổ chức. Tri thức ẩn (tacit knowledge): Có tính chủ quan, duy ý chí, dựa trên nhận thức, kinh nghiệm mà không thể hiện thông qua từ ngữ, lời nói, công thức và gắn liền với những bối cảnh nhất định, vận hành trong bộ não con người.
Tri thức ẩn có thể bao gồm các kỹ năng nhận thức như niềm tin, hình ảnh, cảm nhận và tư duy cũng như các kỹ năng kỹ thuật như sự thuần thục và bí quyết. Tri thức hiện (explicit knowledge): Đây là những tri thức có tính khách quan, được thể hiện ra dưới dạng dữ liệu, văn bản, ngôn ngữ: dễ dàng được thể hiện, bắt giữ, lưu trữ và tái sử dụng thông qua các cơ sở dữ liệu, sách, văn bản tài liệu hướng dẫn và các giấy tờ chuyển tải trong những ngôn ngữ. Tri thức cá nhân là một trong những nguồn tài nguyên của tổ chức và được xây dựng từ chính cá nhân, dù là hiện hữu hay ẩn đi, cũng có thể tăng giá trị vào các sản phẩm, khách hàng và cho chính tổ chức. Quá trình chia sẻ tri thức giữa các cá nhân không chỉ gia tăng tri thức cho tổ chức mà còn cho chính cá nhân đó.
n Tri thức tổ chức gồm tri thức hiện hữu và ẩn đi của các cán bộ nhân viên từ quá khứ đến hiện tại, được xem là chiến lược và tài sản không nhìn thấy được của tổ chức. Tri thức tổ chức bao gồm những đặc tính sau: - Không thể sao chép: nghĩa là tri thức tổ chức là duy nhất. - Hiếm có: do phụ thuộc vào kinh nghiệm và tri thức của cán bộ nhân viên trong hiện tại và quá khứ. - Có giá trị: dựa vào khả năng gia tăng giá trị trong sản phẩm và đạt được năng lực cạnh tranh chiến lược.
- Không thể thay thế: do tổng hợp sức mạnh tri thức của tất cả cán bộ nhân viên nhưng không thể nhân rộng. Geraint (1998) cho rằng chia sẻ tri thức có thể giúp cán bộ nhân viên chia sẻ sự hiểu biết và kinh nghiệm để giúp những dự án, kế hoạch hoàn thành một cách nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, chia sẻ tri thức liên quan đến từng cá nhân trong việc chia sẻ với tổ chức các thông tin, ý tưởng, đề xuất và sự thành thạo đến những người khác. Nonaka và Takeuchi (1995) đã minh họa quá trình chia sẻ tri thức trong mô hình bao gồm bốn hình thức chuyển biến của tri thức: xã hội hóa (socialization), ngoại hóa (externalization), kết hợp (combination) và tiếp thu (internalization).
Họ gọi đây là mô hình SECI. Trong vòng xoắn ốc SECI, tri thức ẩn của các cá nhân được ngoại hóa thành tri thức hiện để có thể chia sẻ được với người khác, được bổ sung bởi quan điểm cá nhân của họ và trở thành tri thức mới. Sau đó tri thức được tiếp thu trở lại bởi một số đông các cá nhân trong hình thức tri thức chủ quan mới, phong phú hơn, và trở thành cơ sở cho việc bắt đầu một vòng sáng tạo tri thức mới. Sơ đồ SECI SECI là một mô hình về quá trình (process model).
Mô hình bắt đầu bằng quá trình xã hội hóa của các cá nhân, tiếp đến là quá trình ngoại hóa bên trong tập thể, quá trình kết hợp trong tổ chức, rồi đến quá trình tiếp thu trở lại trong các cá nhân. Điều quan trọng là bản thân các cá nhân, tập thể, và tổ chức cũng chuyển biến trong quá trình sáng tạo tri thức vì bản thân họ là tập hợp cùa các quá trình. Quá trình xã hội hóa Ở giai đoạn này, tri thức ẩn của các cá nhân được chia sẻ khi cùng nhau trải nghiệm trong tương tác xã hội hàng ngày để tạo ra tri thức ẩn mới. Vì rất khó khái quát hóa, và thường có nét đặc trưng liên quan tới thời gian và không gian cụ thể, tri thức ẩn chỉ được chia sẻ giữa những cá nhân có cùng trải nghiệm trực tiếp bằng năm giác quan.
Thông thường, điều này đòi hỏi các cá nhân phải ở gần nhau trong thời gian dài, hoặc sống trong cùng một môi trường. Bằng cách sống hay hòa nhập vào một thế giới cụ thể, các cá nhân chia sẻ và tích lũy tri thức ẩn về thế giới xung quanh họ. Chẳng hạn, một người có thể có tri thức ẩn về sở thích khách hàng bằng cách xem xét trải nghiệm của chính mình khi làm một n khách hàng. Trong quá trình xã hội hóa, các cá nhân nắm bắt chứ không loại trừ mâu thuẫn, thu nhận tri thức trong môi trường xã hội của họ qua hành động và nhận thức.
Một người có thể chia sẻ tri thức ẩn về khách hàng, nhà cung cấp, và thậm chí là về đối thủ cạnh tranh bằng cách đồng cảm với họ khi cùng nhau chia sẻ trải nghiệm. Sau cùng, cách thức này giúp đạt được một tầm nhận thức mới. Quá trình ngoại hóa Tri thức ẩn thu được trong giai đoạn xã hội hóa sẽ được diễn đạt thành tri thức hiện thông qua quá trình ngoại hóa. Trong khi quá trình xã hội hóa thúc đẩy sự sáng tạo tri thức qua việc trực tiếp chia sẻ cùng một trải nghiệm, thì trong quá trình ngoại hóa, tri thức ẩn của các cá nhân trở nên rõ ràng, hiển hiện, thông qua ngôn ngữ, hình ảnh, mô hình và các hình thức diễn đạt khác, rồi sau đó tri thức này được chia sẻ trong tập thể.
Đối thoại là một phương pháp hữu hiệu để diễn đạt tri thức ẩn của một người và chia sẻ tri thức đã được diễn đạt ấy với những người khác. Quá trình kết hợp Tri thức hiện (explicit knowledge) được thu thập từ bên trong lẫn bên ngoài tổ chức, sau đó được kết hợp, sắp xếp, hoặc nếu không thì được xử lý để hình thành một hệ thống tri thức hiện phức tạp và có hệ thống hơn, đây là giai đoạn kết hợp. Tri thức hiện sau đó được phổ biến trong toàn tổ chức. Hình thức kết hợp cũng có thể bao gồm cả việc “chia nhỏ” các khái niệm.
Chia nhỏ một khái niệm, chẳng hạn như một tầm nhìn công ty, thành những khái niệm sản phẩm hay kinh doanh sẽ tạo ra tri thức hiện mang tính hệ thống hơn. Ở đây, mâu thuẫn được giải quyết qua logic. Trong giai đoạn kết hợp, chủ nghĩa duy lý, hay những phương pháp luận khoa học dựa trên phân tích logic là hữu hiệu nhất trong việc kết hợp, sắp xếp và chia nhỏ tri thức hiện. Quá trình tiếp thu Tri thức hiện được tạo ra và chia sẻ trong toàn tổ chức, sau đó được chuyển hóa thành tri thức ẩn trong quá trình tiếp thu (internalization, hay “nội hóa”).
Chẳng hạn, đọc sách có thể giúp chúng ta tiếp cận với một hệ thống tri thức hiện lớn. Tuy nhiên, n hiếm khi chúng ta có thể biến tri thức hiện đó thành tri thức cửa bản thân chỉ bằng việc đọc sách. Phải suy ngẫm và áp dụng vào thực tế thì chúng ta mới có thể liên kết tri thức đó với bối cảnh của bản thân và với tri thức mà chúng ta đã có, để nắm bắt ý nghĩa bản chất của tri thức đó. Giai đoạn này có thể được hiểu là một tập quán, trong đó tri thức được áp dụng và sử dụng trong những tình huống thực tế và trở thành cơ sở cho những quy trình mới.
Vì vậy, tri thức hiện, chẳng hạn như các khái niệm sản phẩm hay các quy trình sản xuất, phải được hiện thực hóa thông qua hành động, suy ngẫm, và thực hành để chúng có thể được tiếp thu thành tri thức của riêng một cá nhân. Tiếp thu không chỉ là quá trình áp dụng thực hành, mà còn là áp dụng một cách có ý thức. Ý thức là vấn đề then chốt, vì giữa hành động có ý thức và không có ý thức có khoảng cách rất lớn. Tiếp thu là quá trình trong đó chúng ta suy ngẫm ý nghĩa của những gì chúng ta học được từ hành động, đồng thời chuyển tri thức hiện thành kỹ năng để có thể sử dụng tùy ý.
Khi tư duy và kỹ năng của cá nhân được đúc kết thành một sản phẩm hay dịch vụ và được tung ra thị trường, thì sự tương tác sau đó (với các khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối tượng hợp tác, các khu vực và các chủ thể khác) sẽ làm phong phú tri thức ẩn cùa toàn bộ nhóm. Tri thức ẩn đã được bổ sung và tiếp thu có thể tiếp tục được chia sẻ thông qua quá trình xã hội hóa, bắt đầu một quá trình SECI mới khác. Một số lý thuyết liên quan đến chia sẻ tri thức 1.Lý thuyết nhận thức xã hội Lý thuyết nhận thức xã hội (Bandura, 1986) khẳng định con người học tập thông qua việc quan sát người khác và và từng bước kiểm soát hành vi của chính mình. Các nhà nghiên cứu theo lí thuyết này cho rằng đa phần việc học tập đều là kết quả của hoạt động quan sát người khác.
Chúng ta sẽ bắt chước những khuôn mẫu chúng ta đã quan sát từ người khác, đặc biệt là nếu như chúng ta thấy rằng các khuôn mẫu hành vi đó mang lại những kết quả tích cực. n Thuyết nhận thức xã hội nhận định các cá nhân có thể tìm hiểu, học tập thông qua việc quan sát những người khác. Môi trường bên ngoài cũng là một yếu tố quan trọng, tác động đến hành vi và nhận thức của một con người, tồn tại mối quan hệ bộ ba đối ứng giữa môi trường, hành vi và nhận thức của con người (Bandura A.