Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cũng như phương pháp nghiên cứu được áp dụng. Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến những đóng góp dự kiến của nghiên cứu và bố cục chi tiết của các chương tiếp theo. Tóm lại, đây là nền tảng cơ bản để thực hiện nghiên cứu, các nội dung được trình bày sẽ được phân tích và giải thích chi tiết hơn trong các phần tiếp theo của luận văn 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng điện tử 2. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử DV NHĐT hay E-banking là viết tắt của từ Electronic banking, là một hình thức cung cấp DV của ngân hàng thông qua việc kết hợp với công nghệ thông tin, giúp KH sử dụng các DV ngân hàng mà không cần đến ngân hàng (Lê Châu Phú, Đào Duy Huân, 2019). Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ngày 31/07/2006 ban hành quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NHĐT thì: “Hoạt động NHĐT là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử”. Theo Hoàng Nguyên Khai (2013): “DV NHĐT được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm DV ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây,.
Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là loại DV ngân hàng được KH thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động DV ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tư viễn thông”. Theo Segey (2016), DV NHĐT là tất cả các loại hình DV và giao dịch ngân hàng được thực hiện thông qua kênh điện tử. DV này bao gồm hệ thống cho phép các KH là tổ chức tài chính, cá nhân hoặc doanh nghiệp truy cập vào tài khoản, tra cứu thông tin và thực hiện giao dịch thông qua mạng lưới cá nhân hoặc công cộng.
Theo NHNN: “Các DV và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến KH bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến 24/7, 24/24, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet, ATM, POS, điện thoại, laptop.) được gọi là DV NHĐT”. Như vậy, DV NHĐT là hình thức cung cấp tự động các sản phẩm và DV của ngân hàng truyền thống cho KH tương tác thông qua các kênh truyền thông điện tử. 8 Đây là phương tiện cho phép KH thực hiện các giao dịch ngân hàng một cách thuận tiện và linh hoạt. Các dịch vụ ngân hàng điện tử DV NHĐT ngày nay đã phát triển và đa dạng hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của KH trong thời đại công nghệ thông tin.
Các hình thức sử dụng NHĐT bao gồm: − DV ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu (Internet banking): DV ngân hàng trực tuyến qua mạng máy tính toàn cầu, cho phép KH quản lý tài khoản và thực hiện các giao dịch nhanh chóng qua Internet. − DV ngân hàng qua mạng viễn thông không dây (Mobile banking): DV ngân hàng trực tuyến qua ứng dụng của ngân hàng trên điện thoại di động, giúp KH có thể thực hiện giao dịch bất kỳ lúc nào và ở đâu. − DV ngân hàng qua điện thoại (Phone banking): là DV do ngân hàng hoặc cung cấp, cho phép KH thực hiện qua điện thoại một loạt giao dịch tài chính không liên quan đến tiền mặt hoặc các công cụ tài chính (chẳng hạn như séc), mà không cần đến CN ngân hàng hoặc ATM − DV ngân hàng qua trung tâm hỗ trợ (Call center): DV hỗ trợ KH qua điện thoại, tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu và thắc mắc từ KH. − DV ngân hàng tại nhà (Home banking): là nghiệp vụ ngân hàng tự phục vụ dành cho người tiêu dùng và các chủ doanh nghiệp nhỏ, giúp người sử dụng thực hiện nhiều chức năng thường nhật tại nhà thông qua điện thoại, kết nối cáp − DV ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác (TV banking): Để sử dụng DV ngân hàng qua hệ thống vô tuyến truyền hình tương tác, KH có thế sử dụng bộ điều khiển từ xa hoặc một thiết bị đặc biệt được thiết kế riêng để nhập mã số nhận dạng hoặc mật khẩu.
− DV ngân hàng qua các trạm giao dịch tự phục vụ (Kiosk banking): có khả năng cung cấp hầu như tất cả các DV của ngân hàng như một phòng giao dịch truyền 9 thống, nhưng được vận hành hoàn toàn tự động bởi máy móc và các công nghệ hiện đại. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử - Đối với ngân hàng: Để nâng cao hiệu quả và uy tín cũng như mở rộng khả năng cạnh tranh, ngân hàng có thể sử dụng DV NHĐT để giảm chi phí và tiếp cận các đối tượng KH mới trên thị trường. Theo đó: + DV NHĐT giúp các NHTM tối ưu hóa hiệu quả hoạt động bằng cách giảm chi phí, không cần phải tiếp xúc trực tiếp với KH, từ đó giảm chi phí đi lại và loại bỏ các công đoạn lặp lại trong quá trình giao dịch. + DV NHĐT giúp các NHTM tối ưu hóa các quy trình thủ tục và hoạt động vận hành, từ đó nâng cao hiệu suất và tự động hóa.
Áp dụng NHĐT giúp NHTM tiết kiệm thời gian và chi phí bằng cách giảm tải lượng công việc về giấy tờ và làm tăng tốc độ các giao dịch. Đồng thời, đây cũng giúp NHTM giảm bớt sự phụ thuộc vào nhân sự tại các quầy giao dịch, giảm thiểu khả năng xảy ra lỗi trong quá trình thực hiện các hoạt động. + DV NHĐT hỗ trợ các NHTM trong việc cung cấp các DV toàn diện. Để đáp ứng nhu cầu của KH về các DV ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, các NHTM có thể hợp tác với các công ty bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác.
Thông qua NHĐT, các NHTM có thể cung cấp cho KH mọi thông tin ngân hàng cần thiết và dễ dàng triển khai các chương trình giới thiệu hàng hóa, DV mới hoặc khuyến mãi. + DV NHĐT giúp các NHTM mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh. Internet banking đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường CLDV và hiệu quả hoạt động của NHTM, từ đó giúp họ củng cố vị thế trên thị trường. Hơn nữa, công nghệ này còn hỗ trợ các NHTM thực hiện chiến lược toàn cầu hóa mà không cần phải mở rộng CN ở nước ngoài.
- Đối với KH, DV NHĐT đã mang lại những giá trị mới, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời cung cấp sự tiện lợi khi có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi, nhanh chóng và hiệu quả, theo đó: 10 + KH có thể liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện từ bất kỳ đâu để thực hiện các DV ngân hàng. Điều này rất hữu ích đối với các doanh nghiệp nhỏ và cá nhân có ít thời gian cho các giao dịch trực tiếp tại văn phòng ngân hàng. + DV NHĐT cho phép KH thực hiện và xác nhận các giao dịch với độ chính xác cao và tốc độ nhanh, chỉ trong vài giây. + Chi phí cho các giao dịch trực tuyến thấp hơn đáng kể so với giao dịch tại CN, do KH không cần phải chi tiêu cho việc di chuyển và không phải trả phí phục vụ ngân hàng.
+ KH có thể truy cập và quản lý tất cả các tài khoản ngân hàng từ một trang web duy nhất. Ngoài ra, các trang web NHĐT thường cung cấp các DV bổ sung như báo giá chứng khoán, thông báo lãi suất, và quản lý danh mục đầu tư. Điều này giúp KH tiếp cận thông tin và DV một cách thuận tiện và hiệu quả. + Với các tiêu chuẩn được chuẩn hóa, KH được đảm bảo sự phục vụ chính xác, không phụ thuộc vào thái độ của từng nhân viên ngân hàng mà có thể khác nhau.
Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ 2. Khái niệm chất lượng dịch vụ Nói đến CLDV thì trên thế giới có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này. Lewis và Booms (1983) phát biểu: “ CLDV là sự đo lường mức độ DV được đưa đến KH tương xứng với mong đợi của KH tốt đến đâu. Việc tạo ra một DV chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của KH một cách đồng nhất”.
Theo (Wisniewski, 2001), “CLDV được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, nó thể hiện mức độ mà một DV đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của KH”. Theo Parasuraman et al. (1994), “ CLDV là khoảng cách giữa sự mong đợi của KH và những tiện ích mà DV sẽ mang lại và nhận thức, cảm nhận của họ về kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua DV đó”. Từ cách tiếp cận này các tác giả đã đưa ra mô hình CLDV có ba mức cảm nhận cơ bản: Thứ nhất, CLDV tốt đó là khi DV cảm nhận vượt mức mong đợi của KH; Thứ hai, CLDV thỏa mãn đó là khi DV 11 cảm nhận phù hợp với mức mong đợi của KH; Thứ ba, CLDV tồi đó là khi DV cảm nhận dưới mức trông đợi của KH.
Còn theo Zeithaml và Bitner (2000), “CLDV và hài lòng KH là hai khái niệm khác nhau, trong khi CLDV chỉ tập trung cụ thể vào những thành phần của DV, hài lòng KH là khái niệm tổng quát”. Chất lượng có thể được hiểu một cách tổng quát là mức độ mà sản phẩm hoặc DV đáp ứng được các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn đã được đặt ra trước đó bởi KH. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ CLDV được đo lường bằng nhiều yếu tố, và việc xác định chính xác các yếu tố này phụ thuộc vào bản chất của dịch vụ cũng như môi trường nghiên cứu. Nhiều nhà nghiên cứu đã xem xét vấn đề này, nhưng phổ biến và nổi tiếng nhất là các tiêu chí đánh giá CLDV của Parasuraman và các cộng sự (1988).
Parasuraman và các cộng sự (1985) đã xác định mười yếu tố quyết định CLDV. Những yếu tố này bao gồm khả năng tiếp cận: “khả năng tiếp cận (access); chất lượng thông tin liên lạc (communication); năng lực chuyên môn (competence); phong cách phục vụ (courtesy); tôn trọng KH (credibility); đáng tin cậy (reliability); hiệu quả phục vụ (responsiveness); tính an toàn (security); tính hữu hình (tangibles); am hiểu KH (understanding the customer)”. Đến năm 1988, ông đã khái quát hóa các yếu tố này thành năm yếu tố chính: “sự tin cậy (reliability); hiệu quả phục vụ (responsiveness); sự hữu hình (tangibles); sự đảm bảo (assurance); sự cảm thông (empathy)”.