CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến cấu trúc nợ của các công ty niêm yết trong và ngoài nước thường tập trung nhiều vào cấu trúc vốn (Roberts & Sufi, 2009; Graham & Leary, 2011, Colla & cộng sự, 2020). Sự chú ý được dành cho việc lý giải tại sao các công ty phát hành nhiều nợ hơn là phát hành vốn chủ sở hữu và làm thế nào cấu trúc vốn tối ưu được thiết kế để tối thiểu chi phí tài trợ cho công ty. Các khảo sát của Roberts & Sufi (2009), Graham & Leary (2011) cho thấy số lượng lớn các nghiên cứu tập trung sự chú ý vào cấu trúc vốn.
Các tác động tuyến tính, phi tuyến, tác động gián tiếp của các yếu tố này đến cấu trúc vốn cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Mặc dù, các nghiên cứu về cấu trúc vốn đã có rất nhiều trên thế giới và Việt Nam, nghiên cứu tập trung vào khía cạnh nợ còn chưa nhiều và cũng chưa có sự thống nhất về kết quả. Tổng quan lý thuyết cho thấy cấu trúc nợ là yếu tố trung tâm của cấu trúc vốn (Colla & cộng sự, 2020). Bên cạnh đó, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho thấy một trong đặc điểm quan trọng nhất của nợ là kỳ hạn (Colla & cộng sự, 2020).
Vốn được cho là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty. Để tài trợ cho hoạt động kinh doanh này, vốn có thể được tài trợ từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu có thể kể đến đó là tài trợ bằng nợ và bằng vốn chủ sở hữu. So với vốn chủ sở hữu, tài trợ bằng nợ cũng có những yêu sách đối với tài sản của công ty. Tài trợ bằng nợ được cho là rẻ hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần (Ozkan & Trzeciakiewicz, 2014), vì những lý do sau: Một là, chủ nợ được ưu tiên hơn chủ sở hữu vì chủ nợ được thanh toán trước tiên từ thu nhập của công ty.
Hai là, sự bảo vệ của chủ nợ nói chung mạnh mẽ hơn chủ sở hữu vì chủ nợ có thể bắt đầu thủ tục phá sản nếu công ty không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết khi vay nợ. Nợ là một trong những khía cạnh quan trọng của cấu trúc vốn của công ty liên quan đến câu hỏi liệu các lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ (CTKHN) có thể ảnh hưởng đến giá trị của công ty hay không. Mặc dù nợ là một hình thức tài trợ ít tốn kém hơn, nhưng nợ cũng làm tăng xác suất công ty có thể vỡ nợ và do đó có thể dẫn đến phá sản. Kết hợp với thực tế là nợ cũng làm tăng sự biến động thu nhập của công ty, làm gia tăng khả năng gặp kiệt quệ tài chính và phá sản làm cho việc vay nợ trở nên kém 2 hấp dẫn hơn và làm giảm giá trị của công ty.
Do đó, điều quan trọng là phải hiểu rõ hơn về lợi ích và chi phí của việc vay nợ để giải thích lý do tại sao công ty chọn tài trợ bằng nợ ngay từ đầu; liệu có số lượng nợ tối ưu để tối đa hóa giá trị công ty hay không và nếu có một chính sách nợ tối ưu, thì đặc điểm nào của công ty là quan trọng trong việc xác định chính sách đó. Thực tế cho thấy, tài trợ nợ có cả ưu điểm và nhược điểm đối với sự phát triển của công ty và các khoản đầu tư chiến lược công ty (O’Brien & David, 2010). Theo Fama & French (2002), lợi ích của việc vay nợ bao gồm khấu trừ thuế của lãi và giảm các vấn đề về dòng tiền tự do, trong khi chi phí cho vay nợ bao gồm chi phí phá sản tiềm ẩn và mâu thuẫn đại diện giữa các cổ đông và chủ nợ. Do đó, khi lựa chọn tài trợ nợ, các nhà quản lý cố gắng tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích thuế của việc vay nợ và chi phí của sự kiệt quệ tài chính phát sinh từ rủi ro phá sản (Kraus & Litzenberger, 1973) và chi phí đại diện (Jensen & Meckling, 1976).
Nhiều nghiên cứu mở rộng đã và đang được tiến hành, cố gắng đưa ra lời giải thích về cách tạo ra mức tài trợ nợ tốt nhất có tính đến các lợi ích và rủi ro, cho đến nay vẫn chưa đưa ra một lý thuyết nào thuyết phục (Baltaci & Ayaydin, 2014; Myers, 1984). Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam, nơi thị trường vốn hoạt động chưa hiệu quả, giả định cấu trúc vốn hoàn hảo không tồn tại, cấu trúc nợ được cho là có ảnh hưởng đến giá trị công ty, việc lựa chọn CTKHN phù hợp có thể ảnh hưởng đến giá trị của công ty, ngoài ra lựa chọn này cũng giúp công ty tránh khỏi sự không phù hợp kỳ hạn bằng cách sắp xếp cấu trúc tài sản phù hợp với nợ phải trả có thể giảm thiểu tác động xấu của chi phí sử dụng vốn, có thể giải quyết vấn đề mâu thuẫn đại diện và có thể phát tín hiệu tin cậy về chất lượng tài sản công ty (Cai & cộng sự, 2008). Bên cạnh các vấn đề thường được tập sự nghiên cứu trong tài chính doanh nghiệp hiện đại, CTKHN rất quan trọng đối với giá trị công ty, đặc biệt là trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi và sẽ phát triển Việt Nam. Để đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu này là sự tiếp nối các nghiên cứu hiện có (Ngô Văn Toàn & Phạm Thị Thu Hồng, 2015; Trần Thị Thùy Linh & Nguyễn Thanh Nhã, 2017; Ngô Văn Toàn, 2018; Nguyễn Thanh Liêm & cộng sự, 2018; Lê Thị Lanh & cộng sự, 2021) về CTKHN doanh nghiệp ở Việt Nam, mà trọng tâm là tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm mới về các yếu tố ảnh hưởng đến CTKHN của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
3 Bên cạnh các yếu tố là đặc điểm doanh nghiệp được nghiên cứu, sự chú ý tập trung vào các yếu tố bên ngoài cũng được chú ý đến như sự phát triển của thị trường chứng khoán và phát triển của khu vực ngân hàng (Nguyễn Thanh Liêm & cộng sự, 2018; Thuy An Chung & Quynh Trang Phan, 2020). Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm vẫn còn chưa đi đến thống nhất, cả về yếu tố đặc điểm và yếu tố bên ngoài (chất lượng thể chế và kinh tế vĩ mô), vì một số nguyên nhân như điều kiện thị trường và các trung gian tài chính, vấn đề pháp luật, các đại diện cho những yếu tố này để thực nghiệm vẫn chưa kết quả thống nhất. Sự quan tâm ngày càng tăng trong việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến CTKHN. Tuy nhiên, một hoạt động chưa được chú ý liên quan đến nghiên cứu CTKHN, đó là vai trò điều tiết.
Vai trò điều tiết giúp tìm ra mối quan hệ trước đây bị bỏ qua hoặc chưa rõ ràng và giúp mở rộng lý thuyết, điều này được đánh giá là một đại diện cho sự phát triển trong học thuật. Như vậy, khi đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đến CTKHN, nơi công ty hoạt động và thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong điều kiện thị trường chưa hoàn thiện, yếu tố chất lượng thể chế, phát triển tài chính và nguồn tài trợ dài hạn của nền kinh tế được cho là những yếu tố ảnh hưởng đến CTKHN. Cần thiết phải tập trung vào vài trò điều tiết của các yếu tố này đối với ảnh hưởng của tỷ số nợ đến CTKHN. Trong hiểu biết của tác giả thì điều này trong thời gian qua chưa được tập trung để thực nghiện cứu, đặc biệt là bối cảnh nền kinh tế Việt Nam.
Xuất phát từ vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy việc xác định vấn đề nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến CTKHN công ty là cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam. Cùng với các yếu tố đặc điểm công ty, thì các yếu tố thể chế và kinh tế vĩ cần phải được nghiên cứu đến. Như đã phân tích cấu trúc nợ là yếu tố trung tâm của cấu trúc vốn công ty, cấu trúc nợ được đề cấp đến là đặc điểm nổi bật nhất của là CTKHN (Stephan & cộng sự, 2011; Alcock & cộng sự, 2012; Lemma & Negash, 2012; Colla & cộng sự, 2020), vì thế sự chú ý của nghiên cứu này tập trung vào xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CTKHN. Từ những phân tích trên cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nợ có thể làm tăng giá trị công ty trong bối cảnh nền kinh tế như trường hợp của Việt Nam là vấn đề rất cần thiết được nghiên cứu.
Để vay nợ dài hạn, để có CTKHN hợp lý, công ty tại Việt Nam cần phải làm gì? 4 Vấn đề này tại Việt Nam hiện chưa nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Đây là một thiếu sót, khiến công ty thiếu cơ sở vững chắc khi đưa ra quyết định liên quan đến việc lựa chọn CTKHN hợp lý để tài trợ cho hoạt động công ty. Với vai trò quan trọng của CTKHN đối với hoạt động của công ty, để giải quyết vấn đề này nhiệm vụ đặc ra là cần tìm ra những giải pháp tối ưu, qua đó giúp công ty hoạt động tốt trong bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam. Vì vậy, tác giả luận án mạnh dạn tiến hành chủ đề nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc nợ công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài của luận án tiến sĩ của mình.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Để đánh giá tình hình các nghiên cứu liên quan, các nghiên cứu trước này sẽ được theo nhóm: các nghiên cứu về cấu trúc nợ là nhóm thứ nhất, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng là đặc điểm công ty và thể chế và kinh tế vĩ mô nhóm thứ hai, nhóm thứ ba là vai trò của hạn chế tài chính, phát triển tài chính, chất lượng thể chế và tiếp cận tài trợ dài hạn tại thị trường vốn, nhóm cuối cùng là tác động gián tiếp, tác động điều chỉnh, tác động phi tuyến và tác động ngưỡng. Thứ nhất, là các nghiên cứu về cấu trúc nợ. Nghiên cứu của Colla & cộng sự (2020) đã tiến hành đánh giá tổng quan các nghiên cứu hiện có về cấu trúc nợ, đây là yếu tố trung tâm trong cấu trúc vốn của một công ty.