CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN Mục đích của chương này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát về công tác nghiên cứu KTQT trên thế giới, các kết quả đã đạt được và chưa đạt được. Tham khảo và tổng hợp các mối tương quan của các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài của mình làm tiền đề cho tác giả xác định được khoảng trống nghiên cứu và tiến hành lựa chọn triển khai phương pháp nghiên cứu thích hợp.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài Ngày nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến KTQT và việc áp dụng chúng cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu ở một góc độ khác nhau nhằm đạt được mục đích của nghiên cứu, dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài nghiên cứu: Năm 2012, tại Malaysia, Kamilah Ahmad với nghiên cứu “Factors Explaining the Extent of Use of Management Accounting Practices in Malaysian Medium Firms” Để thực hiện nghiên cứu, các tác giả đã gửi bảng câu hỏi khảo sát cho 1.000 doanh nghiệp nhỏ ở Malaysia trong lĩnh vực sản xuất, thu về 160 bảng câu hỏi được trả lời hợp lệ và sử dụng chúng để tiếp tục nghiên cứu. Tác giả đưa ra giả thuyết cả năm nhân tố trên đều có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng KTQT là: (1) quy mô DN, (2) mức độ cạnh tranh trên thị trường, (3) nhận thức của người chủ DN/người quản lý doanh nghiệp; (4) áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến; (5) trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán.
Trong quá trình tác giả nghiên cứu đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được, phân tích mô tả, thử nghiệm chi-bình phương và thử nghiệm phi tham số để kiểm tra các giả thuyết đã đưa ra. Để xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kế toán quản trị với kết luận như sau: Trong các DNNVV tham gia khảo sát thì sử dụng các công cụ kỹ thuật KTQT truyền thống nhiều hơn các công cụ kỹ thuật KTQT hiện đại. Cụ thể là các công cụ kỹ thuật truyền thống như: hệ thống chi phí, hệ thống dự toán và hệ thống đánh giá hiệu quả được vận dụng nhiều hơn các công cụ kỹ thuật hiện đại như hệ thống hỗ trợ cho việc ra quyết định và KTQT chiến 7 lược. Các DNNVV có quy mô vừa vận dụng hầu hết các công cụ KTQT hơn là các DNNVV có quy mô nhỏ, sự khác nhau thể hiện ở các công cụ hiện đại.
KTQT đóng một vai trò quan trọng trong công tác quản trị trong các DNNVV, đặc biệt là công cụ kỹ thuật bao gồm hệ thống đánh giá hiệu suất và các hoạt động kiểm soát. [38] Cũng trong thời điểm này, tại Thổ Nhĩ Kỳ, Erserim (2012) tiến hành nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất ở Thổ Nhĩ Kỳ về tác động của các nhân tố văn hóa doanh nghiệp, đặc điểm của doanh nghiệp và các nhân tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT. Cũng bằng phương pháp khảo sát tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kết quả cho thây rằng các nhân tố: quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh của thị trường, các kỹ thuật sản xuất tiên tiến, mức độ tham gia của người chủ sở hữu/quản lý có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặc khác, nghiên cứu một lần nữa chứng minh cho việc vận dụng KTQT đóng vai trò hỗ trợ làm tăng hiệu quả và hiệu suất quản trị của doanh nghiệp.
[33] Năm 2015, Akaísa Afonso Leite & Paula Odete Fernandes & Joaquim Mendes Leite, nghiên cứu “Contingent factors that influence the use of management accounting practices in the Portuguese textile and clothing sector” – “Các yếu tố tiềm ẩn ảnh hưởng đến việc sử dụng các thông lệ kế toán quản trị trong lĩnh vực dệt may của Bồ Đào Nha”, mục đích nghiên cứu này để xác định các giả thuyết về mối quan hệ giữa năm nhân tố: mức độ cạnh tranh thị trường, sự đa dạng sản phẩm, quy mô DN, tầm quan trọng của thông tin chi phí trong việc ra quyết định và công nghệ sản xuất tiên tiến với việc áp dụng KTQT. Sư dụng phương pháp nghiên cứu phân tích ngẫu nhiên được hỗ trợ bởi lý thuyết. Nghiên cứu chỉ tập trung vào 512 công ty trong ngành công nghiệp dệt may và quần áo thuộc Hiệp hội Dệt may Bồ Đào Nha (ATP), theo dữ liệu được cung cấp trong năm 2014 bằng một bảng câu hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa một số biến số của mô hình phân tích, các kết quả thu được qua mô hình hồi quy đa biến còn cho phép chúng ta kết luận rằng công nghệ sản xuất tiên tiến ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT một cách tích cực và trực tiếp.
Nhóm tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu năm nhân tố: (1) cạnh tranh, (2) sự đa dạng sản phẩm, (3) quy mô của tổ chức, (4) tầm quan trọng của chi phí thông tin 8 đối với quyết định, và (5) CNSXTT với việc áp dụng KTQT. Các giả thuyết của mô hình phân tích được hỗ trợ bởi lý thuyết dự phòng. Kết quả nghiên cứu cho ra 4 nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQT ngoại trừ biến: (4) tầm quan trọng của chi phí thông tin đối với quyết định là không có ý nghĩa thống kê. [2] Đến năm 2017, Eman AL-Hawari, Mahmoud Nassar, nghiên cứu “The factors affecting the different management accounting practices in small and medium sized enterprises in Jordan” – “Các yếu tố ảnh hưởng đến các thông lệ kế toán quản trị khác nhau trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan”, ngiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố việc sử dụng KTQT tại các DNNVV tại Jordan, theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên để xác định ảnh hưởng của một số yếu tố như quy mô DN, bằng cách thiết kế bảng câu hỏi và phân phối cho 100 nhà quản lý tài chính và kế toán được lựa chọn thời gian hoạt động và mức độ cạnh tranh đến việc sử dụng KTQT được đo lường bởi hệ thống chi phí và hệ thống ngân sách tại các DNNVV tại Jordan.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự tác động của các yếu tố trên có tác động đến việc sử dụng KTQT. [34] Năm tiếp theo, 2018, Hamid Reza Kordlouie, Arash Hosseinpour, nghiên cứu “Management accounting practies in small and medium – sized enterprises regarding the impact of organizational DNA” – “Kế toán quản trị hoạt động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên quan đến tác động của tổ chức DNA”. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng các phương pháp KTQT, ảnh hưởng của cơ cấu tổ 9 chức, tiềm năng thương mại và hoạt động công nghệ đến việc vận dụng các phương pháp KTQT tại 342 DNNVV các thị trấn công nghiệp Guilan được chọn ngẫu nhiên từ dữ liệu thống kê. [35] Cũng trong năm này, 2018, Omar Albaddad và Mahmoud Nassar, với nghiên cứu “Factors influencing the implementation of management accounting systems in small and medium sized enterprises in Dubai” – “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Dubai”, nghiên cứu kiểm tra mức độ cạnh tranh, thời gian hoạt động, loại ngành, quyền sở hữu chất lượng và quy mô DN có tác động đến việc áp dụng các phương pháp KTQT hay không.
Bằng phương pháp phân phối bảng câu hỏi được thiết kế đến mẫu ngẫu nhiên đại diện cho tất cả các DN bao gồm 160 kế toán và người quản lý làm việc tại các DNNVV ở Dubai và sử dụng mô hình hồi quy nhiều lần và thử nghiệm mẫu T để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thể hiện các DNNVV ở Dubai áp dụng tất cả các thực hành KTQT (hệ thống chi phí, hệ thống ngân sách, hệ thống đánh giá hiệu suất) có tác động của các nhân tố (mức độ cạnh tranh, thời gian hoạt động, loại ngành, quyền sở hữu và quy mô DN) về việc áp dụng các phương pháp KTQT được đo lường theo từng hệ thống chi phí, hệ thống ngân sách, hệ thống đánh giá hiệu năng. [42] Năm 2018, Kamisah Ismail, Che Ruhana Isa, Lokman Mia. Với nghiên cứu “Market Competition, Lean Manufacturing Practices and The Role of Management Accounting Systems (MAS) Information” – “Cạnh tranh thị trường, thực hành sản xuất tinh gọn và vai trò của các hệ thống kế toán quản trị (MAS)”.
Nghiên cứu này cho rằng các hệ thống kế toán quản lý truyền thống (MAS) không còn có khả năng cung cấp thông tin cần thiết để hoạt động trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi. Do đó nghiên cứu xem xét vai trò của thông tin MAS trong mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh thị trường, sản xuất tinh gọn và hiệu quả của tổ chức. Sử dụng phương pháp gửi bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các công ty sản xuất Malaysia (FMM) và thu về kết quả cho thấy mức độ cạnh tranh trên thị trường ảnh hưởng đến việc áp dụng sản xuất tinh gọn của DN và mức độ cạnh tranh thị trường với việc thực hiện sản xuất tinh gọn ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin quản trị của các nhà quản lý.1 Kết quả nghiên cứu của Kamisah Ismail (2018) (Nguồn: Kamisah Ismail (2018)) Nguyễn Ngọc Toàn và cộng sự (2019), “Factors affecting the application of management accounting in small and medium enterprises in Hanoi, Vietnam”. Bài viết này đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ doanh nghiệp (DNNVV) tại Hà Nội, Việt Nam.
Các yếu tố bao gồm: Đặc điểm sản xuất kinh doanh; Năng lực cạnh tranh; Chiến lược kinh doanh; Nhận thức của nhà quản lý; Chất lượng nguồn nhân lực. Nghiên cứu được thực hiện trên 238 DNVVN tại Hà Nội và kết quả cho thấy nhận thức của CEO về kế toán quản trị có tác động mạnh nhất đến khả năng vận dụng kế toán quản trị của doanh nghiệp trong khi yếu tố mức độ cạnh tranh có tác động yếu nhất. Đồng thời, nghiên cứu cũng xem xét vai trò quan trọng của yếu tố trung gian quy mô công ty đối với mối quan hệ giữa đặc điểm của quá trình sản xuất kinh doanh và việc vận dụng kế toán quản trị, độ tuổi và trình độ chuyên môn. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vai trò điều tiết ảnh hưởng của đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đến kế toán quản trị ứng dụng.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ hơn thì kế toán quản trị ít được sử dụng hơn và ngược lại.