chương 1: Tác giả trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu đã lựa chọn. Những nghiên cứu về tình hình áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp và trong lĩnh vực y tế ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh cũng như các nước đang phát triển. Từ những nghiên cứu đó, tác giả đã xác định khe hổng nghiên cứu và nêu ra những hạn chế trong các nghiên cứu LV Quản lý kinh tế đó để minh chứng cho sự cần thiết đối với việc tiếp tục nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống KTQT nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tại các bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế Tp. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 2.
Tổng quan về KTQT 2. Khái niệm về KTQT Kế toán quản trị đã xuất hiện từ rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường. Các tổ chức, đơn vị với những mục tiêu và lợi ích khác nhau có những nhu cầu về thông tin cũng khác nhau. Do đó, đã hình thành nên những nhận thức khác nhau về KTQT: Theo Ronald W.
Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (1991): “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Garrison (1997): “Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách LV Quản lý kinh tế nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó.” Theo khoản 10 điều 3 Luật kế toán Việt Nam năm 2015, kế toán quản trị được định nghĩa như sau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Ngày nay, khoa học quản lý ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin đối với KTQT không chỉ dừng lại ở mặt định lượng mà còn ở cả mặt định tính. KTQT trong lĩnh vực công gắn chặt với mục tiêu của tổ chức công trong khu vực nhà nước và nhiệm vụ của mỗi tổ chức công. Khác biệt lớn giữa KTQT công và KTQT doanh nghiệp là do bản chất hoạt động của hai khu vực này.
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là vì lợi nhuận do đó KTQT doanh nghiệp cung cấp thông tin phục vụ ra quyết định phần lớn là đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí, giá thành cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần trong thị trường… KTQT công cũng cung cấp thông tin cho nhà quản lý, 15 nhưng nhà quản lý hoạt động không vì lợi nhuận mà là đảm bảo tối đa hóa phúc lợi xã hội, có tính toán đến tiết kiệm và hiệu quả đảm bảo với chi phí đầu vào là thấp nhất và kết quả đầu ra là cao nhất. Vai trò và chức năng của KTQT Căn cứ vào mục tiêu đạt được, tổ chức được phân thành ba nhóm: tổ chức kinh tế, tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính phủ. Các tổ chức dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán để tồn tại và phát triển. Tổ chức kinh tế cần thông tin kế toán để xác định hiệu quả trong hoạt động trong kỳ, tổ chức phi chính phủ cần thông tin kế toán để xác định mức độ phục vụ, tổ chức chính phủ cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ về an ninh và phục vụ xã hội.
Trách nhiệm của các nhà quản lý trong các đơn vị kế toán công nói chung là điều hành và quản lý mọi hoạt động của đơn vị. Các chức năng cơ bản của nhà quản lý đều xoay quanh vấn đề ra quyết định hoạt động. Để có thể ra quyết định đúng đắn LV Quản lý kinh tế và điều hành hoạt động của đơn vị thì nhà quản lý cần phải có thông tin. Và KTQT là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho nhà quản lý.
Vai trò của KTQT trong các đơn vị công đó là: - Là công cụ hạch toán xác lập các cân đối vĩ mô của nền kinh tế phục vụ công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; - Công cụ điều hành tài chính công; - Công cụ giúp nhà quản lý kỷ luật và rủi ro tài khóa, giải trình đánh giá trách nhiệm trong quản lý tài chính công; - Cho phép nhà quản lý đo lường, đánh giá hiệu quả, tác động của tài chính công trên cơ sở định lượng; - Công cụ quản lý tài sản công; - Cung cấp thông tin cho quản trị khu vực công về mặt giá trị và hiện vật; - Công cụ kiểm soát nội bộ trong đơn vị công. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp y tế công lập 2. Khái niệm đơn vị sự nghiệp y tế công lập Điều 2, Nghị định 85/2012/NĐ-CP thì đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thống giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế). Theo quan điểm hiện nay cho rằng đơn vị sự nghiệp y tế công lập là một bộ LV Quản lý kinh tế phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, có chức năng chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh xã hội học.
Đặc điểm của bệnh viện công lập Là một đơn vị hành chính sự nghiệp có thu do cơ quan thẩm quyền của nhà nước thành lập ra, đơn vị này sẽ cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng là khám chữa bệnh cho người dân, bệnh viện sẽ được cấp kinh phí và tài sản để thực hiện các chức năng do nhà nước đề ra, đồng thời đơn vị còn tự tạo được nguồn thu thông qua nguồn BHYT và nguồn thu viện phí. Là một đơn vị có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định. Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng để ký gửi các khoản thu, chi tài chính. Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện công lập 17 Khám bệnh, chữa bệnh: bệnh viện là nơi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định; Tổ chức khám sức khỏa và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước.
Đào tạo cán bộ y tế: bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế. Nghiên cứu khoa học: bệnh viện là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng, những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Chỉ đạo tuyến: hệ thống các bệnh viện được tổ chức theo tuyến kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho các bệnh viện tuyến dưới. Phòng bệnh: song song với việc khám bệnh, chữa bệnh thì việc phòng bệnh là nhiệm vụ không kém phần quan trọng.
Quản lý kinh tế trong bệnh viện: thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của LV Quản lý kinh tế Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện, từng bước tổ chức hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh. Hợp tác quốc tế: theo đúng quy định của Nhà nước. Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế Theo Điều 3, NĐ 85/2012/NĐ-CP quy định đơn vị sự nghiệp y tế như sau: 1. Đơn vị sự ngiệp y tế được đăng ký và phân loại theo các nhóm sau đây: a) Nhóm 1: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển; b) Nhóm 2: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên.
c) Nhóm 3: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; 18 d) Nhóm 4: đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do NSNN bảo đảm toàn bộ. Việc đăng ký, phân loại các đơn vị sự nghiệp y tế được ổn định trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Cơ chế tài chính đơn vị sự nghiệp 2. Nguồn tài chính Nguồn thu tài chính trong đơn vị sự nghiệp thuộc nhóm 1, nhóm 2 gồm: a) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; b) Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết LV Quản lý kinh tế bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); c) Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); d) Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; e) Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật.