CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Hiện nay, có khá nhiều bài nghiên cứu trong và ngoài nước về GTHL. Mục tiêu luận văn mà tác giả hướng đến là xác định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của chúng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các CTNY ở VN. Tác giả đã sử dụng một số nghiên cứu tiêu biểu để làm tài liệu ở nội dung chương này. Các nghiên cứu trên thế giới David Cairns (2006)1 cho thấy việc tiếp cận GTHL theo chuẩn mực IFRS, sử dụng GTHL cho các đo lường về TS và VCSH, kể cả các giao dịch phát sinh phải được ghi nhận bằng GTHL.
Tác giả cho rằng việc dùng GTHL trong IFRS để đo lường TS và VCSH rất hạn chế. David Cairns và cộng sự (2011)2 tìm hiểu về các chính sách liên quan đến việc đo lường các hạng mục được lựa chọn theo IFRS trong năm tài chính, theo GAAP Anh và GAAP Úc trong giai đoạn chuyển đổi. Dữ liệu của 228 công ty ở Anh và Úc về việc đo lường GTHL theo yêu cầu của IIFRS được thu thập từ ngày 01 tháng 01 năm 2005. Nghiên cứu cho thấy rằng đã có sự chuyển đổi từ GAAP Anh và GAAP Úc theo IFRS.
David Procházka (2011)3 cho thấy việc đo lường GTHL có ảnh hưởng gì trong cuộc khủng hoảng kinh tế. Tác giả quan tâm đến bốn vấn đề: lợi nhuận chưa phân phối, đánh giá lại TS và VCSH tại ngày lập BCTC; đo lường độ tin cậy; đo lường sự tương quan, tính chính xác của thông tin được trình bày trên báo cáo lợi nhuận cũng như đo lường hiệu quả quản trị khi đo lường các nhân tố trên bảng cân 1 The use of Fair Value in IFRS (David Cairns, Accounting in Europe, Vol. 2 IFRS fair value measurement and accounting policy choice in The United Kingdom and Australia (David Cairns, Dianme Massoudi, Ross Taplin, Ann Tarca, The British Accouting Review, Volume 43, Issue 1 March 2011, Page 1-21). 3 The role of fair value measurement in the recent financial crunch (David Procházka, Prague Economic Papers, 1, 2011).
6 đối kế toán; hành vi tối ưu khi một vài người tin rằng doanh nghiệp muốn can thiệp vào số liệu, như vậy sẽ làm cho thông tin bất cân xứng và làm cho BCTC giảm đi tính minh bạch. Cuối cùng, tác giả cho rằng khủng hoảng kinh tế cũng như khủng hoảng tài chính không phải do GTHL gây ra. GTHL được xem là công cụ để đánh giá doanh nghiệp có thật sự hoạt động tốt hay không. Songlan Peng và cộng sự (2013)4 kiểm tra vấn đề kế toán toàn cầu, các CMKT hội tụ, tập trung vào việc chấp nhận kế toán GTHL ở Trung Quốc.
Bài viết căn cứ các nguồn dữ liệu lưu trữ có sẵn công khai, phỏng vấn các quan chức chính phủ chủ chốt và các nhà quản lý. Phạm vi dữ liệu bao gồm việc quan sát các báo cáo và sự kiện được ghi nhận. Nghiên cứu đã vạch ra cách thay đổi của Trung Quốc hướng tới giá trị hợp lý bắt đầu từ quan điểm chi phí lịch sử; việc áp dụng các nguyên tắc KT mới bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên cạnh chất lượng thông tin KT và tính hữu dụng của nó đối với việc ra quyết định. Hạn chế của nghiên cứu là bị giới hạn bởi loại dữ liệu có sẵn từ Trung Quốc.
Jason Zezhong Xiao và Guoqiang Hu (2017)5 khảo sát việc thực hiện kế toán GTHL khi mà GTHL được yêu cầu hay được chấp nhận bởi CMKT Trung Quốc. Tác giả đã cho thấy những khó khăn thử thách ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán GTHL. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo hàng năm của các CTNY từ năm 2007-2011; và tiến hành 25 cuộc phỏng vấn từ các giám đốc tài chính, kiểm toán viên và nhà phân tích tài chính; sau đó bảng câu hỏi khảo sát được gởi email và trực tiếp đến các kiểm toán viên cũng như các công ty kiểm toán ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy các CTNY tại Trung Quốc tuân thủ khá tốt các yêu cầu bắt buộc hay một 4 Toward Understanding How Accounting Principles Become Generally Accepted: The Case of Fair Value Accounting Movement in China (Songlan Peng, Cameron Graham, Kathryn Bewley, Financial reporting and auditing as social and organizational practice Workshop 2.
5 Fair value accounting in China: implementation and usefulness (Jason Zezhong Xiao, Guoqiang Hu, ICAEW’s charitable trusts 2017). 7 phần yêu cầu bắt buộc phải dùng GTHL để đo lường TS phi tài chính và VCSH, tuy nhiên, nhiều công ty không thích dùng GTHL trừ phi điều đó là bắt buộc. Các nhà phân tích tài chính, các giám đốc tài chính, kiểm toán viên đều đồng ý rằng thông tin GTHL rất hữu ích. Tuy nhiên, hạn chế nghiên cứu là không phù hợp với một số phát hiện thực nghiệm trước đây về tính hữu ích của việc hạch toán GTHL trong hợp đồng nợ.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nghiên cứu về GTHL. Tác giả Lê Thị Kim Dương (2013) Vận dụng giá trị hợp lý để trình bày thông tin trên BCTC của các Doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại Học Kinh tế TP HCM. Tác giả nghiên cứu thông tin hữu ích mà BCTC mang lại, nhược điểm của phương pháp giá gốc chưa đáp ứng thông tin cho người sử dụng BCTC và ưu điểm của GTHL khi được sử dụng trên BCTC trên thế giới, từ đó đề xuất những chuẩn mực kế toán Việt Nam có những điều chỉnh để phù hợp với quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của tác giả bao gồm hàng tồn kho, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính trên BCTC của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp định tính tổng hợp, phân loại đối chiếu, so sánh thông qua các hướng dẫn của IASB, IASB, IFRS về cách ghi nhận GTHL và trình bày các khoản mục liên quan đến GTHL. Sau đó tác giả thực hiện khảo sát, phỏng vấn và cuối cùng phân tích đưa ra kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thông tin nếu phản ánh theo giá trị sổ sách ban đầu không phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm công bố, các nhà sử dụng thông tin trên BCTC luôn nghi ngờ về tính minh bạch của nó.
Tác giả Lê Thị Mộng Loan (2013) Giá trị hợp lý ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích hợp các thông tin trên BCTC của các công ty tại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP HCM. Thông qua tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam về GTHL tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng việc sử dụng kế toán GTHL tại Việt Nam. Đối tượng và phạm vi 8 nghiên cứu của tác giả là tính thích hợp và độ tin cậy trên BCTC bằng cách khảo sát BCTC của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán TPHCM năm 2012.
Tác giả tập trung vào nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, nhà cho vay và kế toán viên người lập BCTC. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng tác giả đã cho thấy rằng rất ít các doanh nghiệp tại TP HCM sử dụng GTHL cho các khoản mục trên BCTC mà chỉ có chứng khoán định giá theo GTHL. Họ cho rằng GTHL không đáng tin cậy. Nhưng những người sử dụng thông tin tin rằng có sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích hợp của thông tin trên BCTC.
Tác giả Trần Nguyễn Kim Chi (2014) Kế toán giá trị hợp lý trong giao dịch hợp nhất kinh doanh tại các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP HCM. Mục tiêu nghiên cứu nhằm chỉ rõ vai trò của GTHL trong giao dịch hợp nhất kinh doanh; làm rõ cơ sở đo lường, ghi nhận, trình bày và công bố thông tin theo GTHL thông qua thông lệ quốc tế về hợp nhất kinh doanh; đánh giá thực trạng về quy định và việc vận dụng GTHL trong giao dịch hợp nhất kinh doanh tại các doanh nghiệp ở TP HCM. Bằng phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, khảo sát đánh giá bằng phương pháp thống kê mô tả, tác giả cho thấy cần có những phương án hoàn thiện kế toán GTHL trong hợp nhất kinh doanh để đáp ứng mục tiêu hội nhập quốc tế; đồng thời tác giả cũng cho thấy việc vận dụng GTHL trong giao dịch hợp nhất kinh doanh tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Tác giả Dương Lê Diễm Huyền (2014) Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán Doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP HCM. Tác giả so sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam về GTHL với chuẩn mực kế toán quốc tế về GTHL, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục những nhược điểm và hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL. Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp hệ thống hóa các khái niệm; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích định lượng để gởi bảng khảo sát đến phòng kế toán của 30 công ty trong lĩnh vực sản xuất thương mại, dịch vụ, xây dựng, đầu tư, gia công, trong đó có 14 công ty 9 lớn, 11 công ty quy mô vừa, 5 công ty quy mô nhỏ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 60% doanh nghiệp cho rằng GTHL là cần thiết để đảm bảo chất lượng BCTC, 67% doanh nghiệp lớn và vừa có biết đến GTHL, 83% doanh nghiệp không biết đến yêu cầu và ghi nhận đối với một số khoản mục trên BCTC. Những quy định về GTHL trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam còn nhiều bất cập, vì thế việc hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL là việc cấp thiết để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Hạn chế nghiên cứu là mẫu khảo sát của tác giả còn nhỏ, chưa khảo sát hết các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Tác giả Phạm Thị Minh Thùy (2017) Các nhân tố tác động đến đo lường giá trị hợp lý trong kế toán của ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP HCM. Tác giả nghiên cứu các nhân tố nào tác động đến đo lường GTHL tại Ngân hàng với sản phẩm công cụ tài chính, các nhân tố đó tác động thế nào đến đo lường GTHL. Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn, phương pháp định lượng bằng kiểm định thang đo từ phân tích nhân tố khám phá Grobach Alpha, phân tích tương quan, hồi quy.