PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đ t vấn đề Với ch c năng mô tả vấn đề tài chính của doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho nhà quản l bên trong doanh nghiệp mà nó còn thực sự cần thiết đối với những đối tượng sử dụng bên ngoài. Đó là căn c để nhà quản l các cấp trong doanh nghiệp, hội đồng quản trị và người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp để họ ra quyết định phù hợp. Chất lượng thông tin kế toán là vấn đề cực kỳ quan trọng v nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả quyết định của người sử dụng thông tin. BCTC vẫn là c sở chủ yếu để các nhà đầu tư dựa vào đó để ra quyết định.
Do đó việc làm thế nào để n ng cao chất lượng thông tin hay tính hữu ích của thong tin trên BCTC nhằm giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra quyết định phù hợp, đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư đang là vấn đề được rất nhiều người quan t m. Với mong muốn góp phần hoàn thiện h n báo cáo tài chính cho doanh nghiệp Việt Nam, tác giả chọn nghiên c u đề tài: “Các nhân tố tác động đến tính hữu ích của báo cáo tài chính doanh nghiệp tại TP.2 Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, báo cáo tài chính có vai trò và nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin đối với nhà đầu tư, các tổ ch c quản l , các chủ nợ, điều hành thị trường, là điều kiện thúc đẩy thị trường phát triển hiệu quả và lành mạnh. Những quy định và thực tế nội dung thông tin và công bố thông tin trên BCTC ảnh hưởng quan trọng đến tính hữu ích của thông tin và tính minh bạch của thị trường. Nh n chung, với vai trò là công cụ phục vụ cho các hoạt động quản l nền kinh tế của Nhà nước, hỗ trợ cho các hoạt động quản l kinh doanh của doanh nghiệp và cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin th BCTC doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của m nh.
-2- Mặc dù đã có h n 40 năm h nh thành và phát triển kể từ sau khi thống nhất đất nước, tuy nhiên BCTC doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng như các nguyên t c, các yêu cầu cho việc soạn thảo và tr nh bày BCTC chưa được chuẩn hóa và đồng bộ; các quy định về đo lường, ghi nhận, tr nh bày thông tin và nội dung trên các báo cáo còn thiếu hợp l , chưa đầy đủ; tính hội nhập quốc tế chưa cao; các mẫu báo cáo còn nặng tính khuôn mẫu về nội dung và h nh th c vv những điều đó đã làm cho việc áp dụng BCTC trở nên khó khăn và chưa đáp ng tối ưu mục đích sử dụng đa dạng của các đối tượng liên quan. Do đó, việc việc nghiên c u, ph n tích tính hữu ích và từ đó đưa ra các giải pháp n ng cao tính hữu ích của BCTC cho các đối tượng sử dụng là việc làm mang tính cấp thiết và có nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn nghiên c u nhằm giải quyết các mục tiêu sau: - T m hiểu các nh n tố ảnh hưởng đến tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp tại TP. - Dựa trên những kết quả nghiên c u có được, đưa ra một số giải pháp nhằm n ng cao tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp tại TP.
Câu hỏi nghiên cứu Luận văn nghiên c u nhằm trả lời cho các c u hỏi sau: - Các nh n tố nào ảnh hưởng đến tính hữu ích của BCTC của doanh nghiệp? - Các nh n tố này có mối quan hệ như thế nào với tính hữu ích của BCTC của doanh nghiệp? - Các giải pháp nào cho việc n ng cao tính hữu ích của BCTC của doanh nghiệp? 1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên c u: Đề tài tập trung nghiên c u về các nh n tố ảnh hưởng đến tính hữu ích của BCTC, các quan điểm về tính hữu ích của BCTC và đưa ra các giải pháp nhằm n ng cao tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp tại TP.6 Phƣơng pháp nghiên cứu -3- Về phư ng pháp nghiên c u tác giả sử dụng 2 phư ng pháp chính là phư ng pháp định tính và phư ng pháp định lượng. Trong phư ng pháp định tính, tác giả sử dụng phư ng pháp so sánh và đối chiếu, phư ng pháp phỏng vấn trực tiếp, phư ng pháp ph n tích và tổng hợp. Trong phư ng pháp định lượng, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để thực hiện ph n tích thống kê mô tả và phư ng pháp ph n tích nh n tố khám phá EFA. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu Nghiên c u nhằm hệ thống hóa c sở lí luận về tính hữu ích của BCTC.
Đánh giá khái quát thành quả đã đạt được và xác định rõ các vấn đề tồn tại chưa được giải quyết trong việc cung cấp thông tin hữu ích của BCTC doanh nghiệp. Xác định phư ng hướng, quan điểm và đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc n ng cao tính hữu ích của BCTC trong giai đoạn hiện nay, trên c sở chuẩn hóa và đa dạng hóa BCTC theo các nhóm đối tượng sử dụng thông tin, làm cho BCTC trở nên thiết thực, phù hợp h n với điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế. Kết cấu luận văn Đề tài nghiên c u gồm có năm chư ng. Chư ng 1: Tổng quan các nghiên c u trước đ y về tính hữu ích của BCTC Chư ng 2: C sở l thuyết và phư ng pháp nghiên c u.
Chư ng 3: Thực trạng tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp tại TP. Chư ng 4: Kết quả nghiên c u và bàn luận. Chư ng 5: Kết luận và giải pháp. -4- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY VỀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Các nghiên cứu trong nƣớc (1) Nguy n Thị Kim Cúc, (2009).
Trong nghiên c u của m nh, tác giả đã tiến hành khảo sát kiến đánh giá của các nhà đầu tư về t nh h nh thông tin trên BCTC để phục vụ cho việc đưa ra quyết định đầu tư của m nh. Kết quả nghiên c u của tác giả đã cho thấy rằng thông tin trên BCTC vẫn còn thiếu trung thực, chưa phù hợp, thông tin chưa đầy đủ, do đó mà nó chưa thể đáp ng được tính hữu ích của thông tin cho nhà đầu tư. Trong nghiên c u của m nh, tác giả đã sử dụng phư ng pháp duy vật biện ch ng và phư ng pháp thống kê, ph n tích để phục vụ cho mục đích nghiên c u đề tài. Theo kết quả khảo sát kiến của các nhà đầu tư mà tác giả đã tiến hành trong nghiên c u th tính hữu ích của BCTC bị suy giảm nhiều, có nhiều kiến của nhà đầu tư đánh giá là thông tin trên BCTC chưa đáng tin cậy, thiếu thông tin, nặng tính h nh th c và do đó, để được các nhà đầu tư quan t m đến BCTC th cần phải xem xét sửa đổi, bổ sung trong các mặt của BCTC.
Trong nghiên c u của m nh, tác giả c ng đã đưa ra một số giải pháp nhằm n ng cao tính hữu ích của BCTC như chuẩn hóa BCTC doanh nghiệp Việt Nam, đa dạng hóa BCTC để phục vụ cho các nhóm đối tượng sử dụng khác nhau.2 Các nghiên cứu nƣớc ngoài (3) Baruch Lev and Paul Zarowin, (1998). Theo nhóm tác giả Lev và Zarowin th : “liên kết chéo giữa cổ t c và lợi nhuận báo cáo, và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư, đã suy giảm trong h n hai mư i năm qua”, “tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sút giảm, bất chấp chất lượng các dự báo của các nhà ph n tích”. Họ cho rằng hệ thống đo lường và báo cáo kế toán không ng phó tốt với sự thay đổi đang tác động s u s c đến hoạt động kinh doanh và giá trị thị -5- trường của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay; và chính “tốc độ thay đổi quá nhanh của doanh nghiệp cùng với sự kém hiệu quả của hệ thống kế toán trong xử l các hậu quả của sự thay đổi là những nguyên nh n chính được viện dẫn cho sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính”. Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê trong giai đoạn gần hai mư i năm và trên kết quả nghiên c u của nhiều tác giả khác, vấn đề mà Lev và Zarowin đặt ra đó là làm thế nào để ngăn chặn sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính, từ đó tác giả đã đưa ra đề xuất để n ng cao tính hữu ích của thông tin tài chính đó là: “tr nh bày lại một cách có hệ thống các BCTC hiện hành”.
Theo tác giả th BCTC đã cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư cá nh n trong việc dự đoán về dòng tiền trong tư ng lai của doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả c ng đã tiếp cận tính hữu ích của BCTC trên c sở đo lường chất lượng thông tin trên BCTC dựa trên ba yếu tố chính đó là tính có thể hiểu được, độ dài của BCTC và các chỉ tiêu, thông số tài chính. Kết quả của nghiên c u đã chỉ ra rằng, khi yếu tố “tính có thể hiểu được” bị giảm sút, độ dài của BCTC gia tăng sẽ làm cho tính hữu ích của thông tin trên BCTC bị suy giảm. Mặt khác, các chỉ tiêu của thông số tài chính nếu được tr nh bày càng ng n gọn, chặt chẽ, minh bạch th sẽ làm gia tăng tính hữu ích của thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư.
(5) Financial Accounting Standards Board, (1978) Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB th chất lượng của thông tin trên BCTC được thể hiện thông qua 4 đặc điểm đó là: thích hợp, đáng tin cậy, nhất quán và có thể so sánh được. Bên cạnh đó, FASB c ng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin về vấn đề quan hệ giữa chi phí – lợi ích; trọng yếu và thận trọng.