CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN NHU CÂU VON LƯU ĐỘNG CUA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tài liệu 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài Olayinka Olufisayo Akinlo (2007) cũng đã thực hiện nghiên cứu của mình đó là “ Xác định nhu cầu vốn lưu động đối với những doanh nghiệp 6 Nigeria ° hướng đến mục tiêu những nhân té gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp tai Nigeria dựa trên dữ liệu được thu thập cho giai đoạn kinh tế 1997-2007. Tương tự những nghiên cứu khác, tác giả cho rang các nhân tố bên trong và bên ngoài đều có những ảnh hưởng nhất định đến nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong đó, tốc độ tăng trưởng, quy mô va chu kỳ chuyên hóa tiền mặt có ảnh hưởng thuận chiều đến nhu cầu vốn lưu động và nhân tố đòn bay tài chính cho ra một kết quả ngược chiều. Tuy nhiên, nghiên cứu đã được thực hiện từ khoảng thời gian 1997-2007 và với thời kỳ dịch Covid-19 phức tạp như ngày nay các biến số sẽ có sự thay đổi và các doanh nghiệp cần phải xác định rõ dé từ đó lập ra những kế hoạch đề đối phó với những khó khăn của thị trường.
Bài nghiên cứu cua Narender, Vunyale; Menon, Shrijit; Shwetha (2008) đã xem xét các yếu tô ảnh hưởng đến các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành xi măng ở An Độ. Nguyên cứu đã chi ra 6 nhân tố ảnh hưởng đến tính kip thời của báo cáo tài chính đó là: quy mô, chỉ số kinh doanh, hiệu quả hoạt động của công ty, tốc độ tăng trưởng của công ty, tỷ lệ nợ trên von chủ sở hữu và dong tiền hoạt động. Phân tích dữ liệu nghiên cứu liên quan đến kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan; trong khi kỹ thuật hồi quy bội số đã tạo điều kiện cho việc kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả cho thấy khi xem xét tỷ lệ vốn lưu động là nhân tô phụ thuộc thì các nhân tố tác động đáng ké là quy mô doanh nghiệp, dòng tiền hoạt động, chỉ số kinh doanh và tốc độ tăng trưởng.
Thêm vào đó, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp giúp cho các doanh nghiệp có thé sử dụng hiệu quả vốn lưu động. 15 Tuy nhiên, đề tài này được nghiên cứu từ lâu về trước nên so với tình hình hiện tại có thé có sự thay đổi về kết quả nghiên cứu và nghiên cứu trên tập trung vào khai thác thị trường các doanh nghiệp tại An D6- nơi có những nét văn hoá cũng như nền kinh tế thị trường khác với Việt Nam. Nghiên cứu của Muhammad Mehtab Azeem & Akin Marsap với đề tài '“ Các nhân tố và nhu cầu vốn lưu động” được thực hiện vào năm 2009 trên các ngành đường, giấy, xi măng, kỹ thuật, day và dệt đã xác định chu kỳ hoạt động, cách thức dòng tiền hoạt động, mức độ hoạt động kinh tế, tốc độ tăng trưởng, ROA, đòn bay tài chính và quy mô công ty là những nhân tô ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động của công ty. Các biến số tác giả đưa ra khá chỉ tiết và đầy đủ đã xác định được những nhân tố ảnh hưởng tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp.
Theo đó, chỉ có dòng tiền hoạt động và tốc độ phát triển có mối quan hệ thuận chiều với nhu cầu vốn lưu động, những nhân tố khác đều mang lại kết quả ngược chiều. Nghiên cứu nay dé xuất các biện pháp hữu ích cho các công ty có thé cân bằng vốn lưu động. Tuy nhiên, thời gian ra đời của bài nghiên cứu cách khá xa thời điểm hiện tại nên sẽ có sự thay đôi khi nghiên cứu các số liệu của hiện tại và hơn nữa là các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Amarjit Gill vào năm 2011 đã thực hiện nghiên cứu của mình tai Canada: “ Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động”? nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp tại thị trường này.
Đó là chu kỳ hoạt động, dòng tiền hoạt động, tốc độ tăng trưởng, ROA, đòn bay tai chinh, quy mô doanh nghiệp, quốc tế hoa DN, chỉ số Tobin’s Q. Nghiên cứu tap trung xem xét trên hai nhóm ngành chính là nhóm ngành sản xuất và nhóm ngành dịch vụ. Nghiên cứu đã chỉ ra 2 chiều hướng tác động khác nhau của các nhân tô. Nếu như chu kỳ hoạt động, hệ số biến động doanh thu, quốc tế hóa DN, đòn bay tài chính có mỗi quan hệ cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp thì quy mô DN, tốc độ tăng trưởng, chỉ số tobin’s Q lại mang đến kết quả ngược chiều.
Tuy nhiên, nghiên cứu trên tập trung vào khai thác thị trường các doanh nghiệp tại Canada- nơi có những nét văn hoá cũng như nền kinh tế thị trường khác với Việt Nam cũng như phạm vi thời gian của đề tài đã khá lâu trong khi đó, ngày nay với sự phát triển 16 của khoa học công nghệ và những tác nhân khác những nhân tô ây ít nhiêu đã có những sự thay đồi. Ebrahim Manoori, Datin Dr Joriah Muhammad (2012) nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến quản lý vốn lưu động đối với các công ty ở Singapore. Bằng phương pháp thong kê mô tả, hồi quy, phân tích dit liệu cụ thé 94 doanh nghiệp niêm yết tại Singapore trong giai đoạn 2003 - 2010, kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, dòng tiền từ hoạt động ban hàng và chi tiêu vốn cho tổng doanh thu và tổng sản pham quốc nội có tác động cùng chiều đến quản lý vốn lưu động của các công ty. Ngoài ra, các nhân tố khác không tìm thấy ý nghĩa với quản lý vốn lưu động của công ty.
Từ đó, tác giả cũng đưa ra các giải pháp và khuyến nghị giúp các doanh nghiệp ở Singapore quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, mẫu quan sát của bài nghiên cứu còn ít nên kết quả nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Thêm nữa, đề tài này được nghiên cứu từ lâu về trước nên so với tình hình hiện tại có thé có sự thay đổi về kết quả nghiên cứu và nghiên cứu trên tập trung vào khai thác thị trường các doanh nghiệp tại Singapore- nơi có những nét văn hoá cũng như nền kinh tế thị trường khác với Việt Nam. Abbadi (2012) nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố quyết định nhu cầu vốn lưu động trong các tập đoàn công nghiệp Palestine.
Đối tượng nghiên cứu này là dữ liệu 11 công ty công nghiệp được niêm yết trên Sở Giao dich Chứng khoán Palestine. Bài nghiên cứu đưa ra giả thuyết có 7 nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động bao gồm: chu kỳ chuyên đổi tiền mặt, dòng tiền hoạt động, quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế và lãi suất cho vay và ứng trước. Bằng phương pháp hồi quy, phân tích dit liệu, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố chu kỳ chuyên đổi tiền mặt, dòng tiền hoạt động, khả năng sinh lời có tác động cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp. Ngược lại, quy mô và đòn bay tài chính có tác động ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động.
Mặc dù những kết luận này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chúng nên được xem xét dưới góc độ của những hạn chế này. Đầu tiên, mẫu nghiên cứu còn hạn chế cho nên kết quả có thé không chính xác khi nghiên cứu mẫu quan sát rộng hon. Thứ hai, nghiên cứu này không xem xét tât cả các các yêu tô có thê ảnh hưởng đên 17 nhu cau von lưu động. Cuôi cùng, dé tài này được nghiên cứu từ lâu về trước nên so với tình hình hiện tại có thê có sự thay đôi vê két quả nghiên cứu.
Nhóm tác giả Shaista Wasiuzzaman and Veeri Chettiar Arumugam (2013) nghiên cứu thực nghiệm điều tra mối quan hệ giữa các thuộc tính của công ty và quyết định đầu tư vốn lưu động: Băng chứng của Malaysia. Mẫu bao gồm 192 công ty niêm yết trên Bursa Malaysia đại điện cho các lĩnh vực khác nhau giai đoạn 1996 - 2007. Bằng phương pháp hồi quy, thống kê mô tả, tác giả đã đưa ra giả thuyết có 12 nhân tô ảnh hưởng tới quyết định đầu tư vốn lưu động. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cơ hội tăng trưởng và quy mô dòng tiền hoạt động có ảnh hưởng cùng chiều với quyết định đầu tư vốn lưu động.
Ngược lại, nhân tố đòn bây tài chính, giá trị tài sản hữu hình, tăng trưởng GDP, quy mô công ty và doanh thu có tác động ngược chiều với quyết định đầu tư vốn lưu động. Các biến còn lại được phát hiện là không đáng ké liên quan đến quyết định đầu tư vốn lưu động của các doanh nghiệp. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu quan sát lớn cho nên kết quả khả thi hơn so với nhiều nghiên cứu khác. Tuy nhiên, đề tài này được nghiên cứu ở thời gian khá xa so với hiện tại nên kết quả có thé thay đồi.
Nghiên cứu của James Ike Ugwu and Samuel Menyo Takon (2015) tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn lưu động bằng cách sử dụng phương pháp định tính. Tác giả đã đưa ra giả thuyết răng có 9 nhân tố ảnh hưởng đến tính kịp thời của báo cáo tài chính đó là: các khoản phải thu, các khoản phải trả, hàng tồn kho, chu kỳ chuyền đổi tiền mặt, quy mô, khả năng sinh lời, tính thanh khoản, tỷ lệ nợ tai chính và tỉ lệ tai sản tài chính có định. Bằng phương pháp phân tích, mô tả, kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, tính thanh khoản, các khoản phải thu, các khoản phải trả, khả năng sinh lời ảnh hưởng đến quản lý vốn lưu động. Ngoài ra, không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy có mối quan hệ giữa hàng tồn kho, chu kỳ chuyền đổi tiền mặt, tỷ lệ nợ tài chính và tỉ lệ tài sản tài chính cố định đối với quản lý vốn lưu động.
Tuy nhiên, nghiên cứu chưa dùng phương pháp định lượng, vì thế kết quả nghiên cứu có thể có sự chênh lệch khi nghiên cứu theo phương pháp này.2 Các nghiên cứu trong nước Phạm Trinh Hiếu (2010) nghiên cứu về “Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp nhỏ vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh” đã phân tích, đánh giá thực trạng quản trị VLD của 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chi Minh.