chương 1, chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết để thực hiện khóa luận và trình bày các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về hệ số an toàn vốn, đồng thời cũng trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đế đề tài trong nước và quốc tế được thực hiện trước đây. Từ đó, tìm ra khoảng trống của các nghiên cứu trước cũng như đưa ra hướng nghiên cứu cho đề tài.1 Cơ sở lý thuyết về hệ số an toàn vốn 2.1 Lý luận chung về hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) là hệ số xác định năng lực của ngân hàng trong việc đáp ứng các khoản nợ phải trả có thời hạn và các mối đe dọa như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và các rủi ro khác. Nói cách khác, CAR là công cụ đánh giá về mức độ an toàn của một Ngân hàng.
Hệ số này được tính dựa theo tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có trọng số rủi ro của ngân hàng (Karim, 1996; Hsu và cộng sự, 2007; Hafez và El-Ansary,2015). Rủi ro mà ngân hàng có thể đối mặt được phân thành nhiều loại như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá, và tất cả được tính vào hệ số an toàn của nguồn vốn. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền quản lý sử dụng hệ số an toàn vốn như một chỉ số tài chính quan trọng để đánh giá một ngân hàng có đang hoạt động an toàn hay không. Mục đích của hệ số CAR là để các NHTM luôn hoạt động ổn định, giảm thiểu tình trạng các Ngân hàng chạy theo lợi nhuận, tăng cường đầu tư thông qua hoạt động cho vay vào các lĩnh vực nhiều rủi ro dẫn đến phá sản.
Trong thực tế, khi một Ngân hàng có hệ số CAR nằm trong mức an toàn thì Ngân hàng đã có được khả năng chịu đựng và chống lại những cú sốc xảy ra bất ngờ liên quan đến tài chính để bảo vệ chính Ngân hàng cũng như khách hàng của mình. Theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hệ số an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức độ đủ vốn của Ngân hàng dựa trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của 9 ngân hàng. Đối với các nhà quản lý, hệ số này sẽ cho họ biết mức độ rủi ro của Ngân hàng đối với các khoản nợ đã đến hạn. Trên thực tế, mỗi Ngân hàng tồn tại và vận hành trong một môi trường khác nhau và đối với mỗi quốc gia, sẽ có sự ổn định của nền kinh tế khác nhau.
Do đó, các cơ quan quản lý Ngân hàng ở mỗi quốc gia sẽ có những quy định khác nhau về hệ số này, tuy nhiên vẫn phải tuân theo tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel, các Ngân hàng phải đảm bảo quân thủ hệ số này theo quy định của quốc gia nhằm ổn định nền kinh tế đất nước và đóng góp vào sự ổn định của nền kinh tế thế giới. Theo tác giả Wall (1985), áp dụng chuẩn mực về hệ số an toàn vốn sẽ giúp các NHTM tối thiểu rủi ro dẫn đến phá sản và đảm bảo hoạt động của Ngân hàng luôn trong trạng thái ổn định.2 Vai trò của hệ số an toàn vốn Đối với Ngân hàng: Theo nghiên cứu của Kalifa và Bektas (2018), CAR được thiết kế để đảm bảo rằng Ngân hàng có đủ vốn để chống lại các rủi ro tài chính mà họ có thể đối mặt trong quá trình hoạt động. Các biến động bất ngờ như thay đổi trong thị trường tài chính, suy thoái kinh tế, hay các sự kiện không lường trước có thể ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của Ngân hàng. Do đó, việc tuân theo quy định về hệ số an toàn vốn rất quan trọng để các Ngân hàng luôn hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần nâng cao sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán.
Việc một Ngân hàng sụp đổ và mất khả năng thanh toán mang lại nhiều hệ luỵ, tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính như là kéo theo sự sụp đổ của các Ngân hàng khác, đe doạ đến sự vận hành của thị trường tài chính (Soludo, 2009). Để duy trì hoạt động ổn định và bảo vệ khách hàng gửi tiền, các Ngân hàng phải áp dụng hệ số an toàn vốn theo quy định của tổ chức quản lý ở mỗi quốc gia. Trong các trường hợp Ngân hàng phá sản, tiền gửi của khách hàng phải được ưu tiên trước vốn, vì thế mà người gửi sẽ mất tiền khi mà Ngân hàng thua lỗ vượt mức vốn mà Ngân hàng đang có. Nghiên cứu của Kamram và cộng sự (2016) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của 28 NHTM tại Pakistan giai đoạn 2007-2016 cho thấy rằng việc tăng tỷ lệ an toàn vốn 10 sẽ giúp các Ngân hàng cải thiện tính ổn định trong hoạt động theo hướng tích cực.
Ngân hàng được coi như là trụ cột của nền kinh tế, do đó sự ổn định và phát triển bền vững của NHTM có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc gia và thế giới. Việc Ngân hàng có khả năng hoạt động ổn định và có khả năng chịu được những cú sốc tài chính bất ngờ sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào nền kinh tế quốc gia. Có thể thấy, sự ổn định và phát triển của Ngân hàng sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành khác. Hệ số an toàn vốn chính là thước chỉ số quan trọng đối với các nhà quản trị Ngân hàng, đặc biệt là tại Việt Nam.
Việc ước lượng được rủi ro trong những hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và tính toán để hệ số CAR luôn nằm trong chuẩn Basel không những dự đoán được rủi ro cho hiện tại mà còn cho những rủi ro trong tương lai. Nhờ đó mà các nhà quản trị ngân hàng có thể kịp thời đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm điều chỉnh một số rủi ro theo từng giai đoạn của nền kinh tế. Đối với nhà đầu tư: Trong các lĩnh vực liên quan đến tín dụng, các NHTM luôn ưu tiên vào niềm tin của khách hàng đối với Ngân hàng thay vì tài sản của Ngân hàng, do đó việc tuân theo chuẩn mực Basel II giúp cho các NHTM hoạt động ổn định, các nhà đầu tư có thể dựa vào chỉ số CAR để đưa ra quyết định sẽ đầu tư vào Ngân hàng nào. Theo nghiên cứu của Kumar Aspal và Nazneen (2014), Mekonmen (2015) cho thấy các nhà đầu tư quan tâm đến các ngân hàng có tình hình tài chính ổn định, có khả năng chịu đựng tốt trước những biến động tiêu cực của thị trường trước tiên.
Vì hệ số này sẽ báo hiệu cho người gửi tiền trước những rủi ro có thể xảy ra mà Ngân hàng có thể gánh chịu và tính ổn định trong hoạt động của Ngân hàng như là khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toàn khoản vay khi đến hạn. Đối với Ngân hàng Nhà nước: Đối với NHNN, hệ số này được sử dụng như một công cụ nhằm giám sát mức độ an toàn của từng Ngân hàng khi tuân thủ hệ số CAR theo quy định của Nhà nước theo từng thời kỳ và từng biến động của thị trường. Ví dụ như ở Việt 11 Nam, hệ số này không được thấp hơn 9% (Đào Thanh Bình, 2020). Nhờ đó, NHNN sẽ đảm bảo được sự ổn định của nền kinh tế quốc gia cũng như sẽ dự đoán và giảm trừ được khả năng phá sản của Ngân hàng để đưa ra phương án tốt nhất để bảo vệ nền kinh tế cũng như người gửi tiền.3 Sự phát triển của cách đo lường hệ số an toàn vốn Một vài lý thuyết trước đây được đưa ra bởi các nhà kinh tế học trên thế giới như Agency theory (Eisenhard, 1989) hay thuyết trung gian tài chính (Allen và Santomero, 1997).
Tuy nhiên, các lý thuyết này chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động trong ngành ngân hàng. Uỷ ban Basel về giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) được thành lập năm 1974 bởi các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel của Thuỵ Sĩ. Đến năm 1988, uỷ ban đã giới thiệu hệ thống đo lường vốn đầu tiên - gọi là Hiệp ước Basel I. Basel I tập trung chủ yếu vào rủi ro tín dụng, đây chính là một trong những rủi ro quan trọng mà Ngân hàng nào cũng phải đối mặt (Ramirez, 2017).
Cụ thể, Basel I yêu cầu mức an toàn vốn tối thiểu là 8% đối với tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Năm 1996, Basel I được bổ sung thêm rủi ro thị trường. Công thức tính Basel I được thể hiện như sau: 𝑽ố𝒏 𝒕ự 𝒄ó (𝑪) 𝑪𝑨𝑹 = ≥ 𝟖% 𝑻à𝒊 𝒔ả𝒏 𝒄ó 𝒕𝒓ọ𝒏𝒈 𝒔ố 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 (𝑹𝑾𝑨) Trong đó, vốn tự có bao gồm vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2 sau khi đã loại bỏ các khoản giảm trừ: Vốn cấp 1: Bao gồm các nguồn lực có tính thanh khoản tốt nhất như: Vốn chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại và khoản dự trữ công khai như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển Vốn cấp 2: Dự trữ không công khai, các công cụ nợ giá trị tăng thêm của tài sản cố định, đánh giá lại tài sản tài chính, dự phòng cho vay và nợ ký hạn thứ cấp. 12 Tài sản có trọng số rủi ro là tài sản mà ngân hàng nắm giữ được quy đổi sau khi nhân với trọng số rủi ro.
Các tài sản có trọng số rủi ro của ngân hàng được phân vào 4 nhóm là 0%, 20%, 50% và 100% (Riaz và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, ở Basel II, phạm vi này đã mở rộng lên đến 150%. Tài sản có trọng số rủi ro được phân nhóm như sau: Bảng 2.1 Phân loại tài sản theo hệ số rủi ro Hệ số Nhóm Loại tài sản rủi ro - Tiền mặt và vàng - Tiền, vàng gửi tại NHNH và các Ngân hàng chính sách - Giấy tờ có giá do Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán, các khoản phải đòi đối với Chính phủ Việt Nam.