CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài Từ những bài học kinh nghiệm sau các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, đã cho thấy rằng ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực đối mặt với nhiều loại rủi ro nhất, gây tổn thất nhiều cho nền kinh tế. Vì thế các ngân hàng trên thế giới nói chung và các ngân hàng Việt Nam nói riêng đã chú trọng rất nhiều vào việc quản trị rủi ro ngân hàng. Hiệp ước Basel đã trở thành bộ tiêu chuẩn chung phổ biến nhằm giúp các ngân hàng có thể chuẩn hoá, cải thiện và lành mạnh trong lĩnh hoạt động kinh doanh ngân hàng. Những thay đổi từ Basel I đến Basel III đã đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn phần nào đã khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc ổn định các nguồn vốn nhằm giúp đảm bảo hệ thống ngân hàng được hoạt động ổn định.
Tính đến thời điểm hiện tại Việt Nam chưa là thành viên BCBS nên không bị ràng buộc thời gian tuân thủ tiêu chuẩn Basel, nhưng hiện tại Ngân hàng nhà nước cũng đã ban hành các thông tư, các nghị định bám sát theo các quy chuẩn Basel nhằm nâng cao an toàn vốn, quản lý thanh khoản nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng. Và trong khuôn khổ Basel, chỉ tiêu hệ số an toàn vốn (CAR) là được quan tâm hơn cả. Hệ số an toàn vốn (CAR) là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn của ngân hàng. Các cơ quan quản lý ngân hàng cũng như các ngân hàng đều quan tâm đặc biệt đến hệ số này, luôn đảm bảo duy trì hệ số CAR thông qua các cơ chế, chính sách phù hợp.
Tại Việt Nam, NHNN đã có những hướng triển khai áp dụng Basel vào quản trị rủi ro ngân hàng và xem đó là trọng tâm của ngành. Đến năm 2020, 10 ngân hàng thí điểm cần đạt chuẩn Basel II và đến 2025 các ngân hàng còn lại phải đạt chuẩn để từ đó có thể xem xét đến việc áp dụng Basel III. Tuy nhiên, các ngân hàng hiện tại đang bộc lộ quá nhiều điểm yếu đặc biệt là hệ số an toàn vốn. Như vậy việc các ngân hàng đáp ứng Basel II , cũng như việc tiến đến Basel II cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn thông lệ quốc tế.
Từ những điều đó, tôi xin chọn đề tài luận 2 văn “ Nghiên cứu hệ số an toàn vốn và khả năng áp dụng Basel III tại các ngân hàng TMCP Việt Nam“ làm luận văn nghiên cứu.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản sau: (i) Xem xét những sự thay đổi chính của Basel III so với Basel II và tác động từ sự thay đổi này đến việc quản trị rủi ro ngân hàng của một số nước trên thế giới. (ii) Xem xét các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng một số nước trên thế giới. Từ đó tiến hành thực nghiệm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn (CAR) tại các ngân hàng Việt Nam. (iii) Thực trạng áp dụng Basel tại Việt Nam và những điểm khác biệt cơ bản giữa các tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel III và các thông tư tại Việt Nam.
(iv) Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm giúp việc quản trị rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam tuân theo hiệp ước Basel.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng số liệu của 30 ngân hàng tại Việt Nam gồm: Vietinbank, BIDV, Vietcombank, MB, ACB, Sacombank, Techcombank, SHB, Eximbank, SCB, NCB, Kiên Long Bank, VPBank, VIB, HDBank, SGB, SeaBank, PGBank, TPBank, MSB, Việt Á Bank, Bắc Á bank, An Bình Bank, LienVietPostBank, Nam Á Bank, OCB, PVComBank, VietBank, Agribank, Vietcapital. Dữ liệu được lấy từ báo cáo thường niên/ báo cáo tài chính của các ngân hàng giai đoạn 2010 -2018 trên website ngân hàng. Và từ nguồn dữ liệu VietStock : https://finance.4 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bảng (Panel Regression) với biến phụ thuộc là hệ số an toàn vốn (CAR) và các biến độc lập bao gồm: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ đòn bẩy (LEV), thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ cho vay (LOA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ huy động (DEP) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP). 3 2 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BASEL VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nếu nói về chuẩn mực nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng và các tổ chức tài chính nói chung, người ta sẽ nhắc ngay đến tiêu chuẩn Basel.
Các tiêu chuẩn được ra đời cách đây hơn hai thập kỷ và được hầu hết các quốc gia cũng như các tổ chức tài chính trên thế giới tuân thủ một cách rộng rãi, luôn là mục tiêu chuẩn mực mà họ cố gắng đạt được nhằm tạo ra một thị trường tài chính an toàn, ổn định và tạo ra một mặt bằng chung cạnh tranh bình đẳng lẫn nhau trên quy mô quốc tế.1 Những thay đổi của Basel từ Basel I đến Basel III Vào thập niên 1980, hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đồng thời phát sinh ra những cuộc cạnh tranh bất bình đẳng giữa các ngân hàng. Do đó, nhằm ổn định, củng cố lại hoạt động ngân hàng quốc tế và tạo ra một cơ chế cạnh tranh lành mạnh, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập (BCBS). Năm 1988, Ủy ban quyết định ban hành một thoả thuận quốc tế về các tiêu chuẩn vốn tự có gọi là Hiệp ước vốn Basel I. Theo yêu cầu Hiệp ước này buộc các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ vốn bắt buộc trên tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro tối thiểu là 8% để bù bắp cho những rủi ro và những tổn thất có thể xảy ra (hay còn được gọi là “tỷ lệ Cook”).
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) theo Basel I được tính theo công thức: Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Trong đó, tổng vốn được tổng thành từ những loại vốn cấp 1 (các loại vốn chắc chắn có như vốn chủ sở hữu vĩnh viễn, lợi nhuận giữ lại, lợi ích thiểu số tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh), vốn cấp 2 (vốn có chất lượng thấp hơn như nguồn vốn tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng các tổn thất chung, đầu tư tài chính vào công ty con và tổ chức tài chính khác, vốn từ những 4 công cụ nợ trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi hay công cụ nợ khác) và vốn cấp 3 (vốn có độ tin cậy thấp nhất như các khoản vay ngắn hạn). Đồng thời cũng yêu cầu tổng vốn cấp 2 và 3 không vượt quá vốn cấp 1. Tuy nhiên Basel I vẫn còn vài hạn chế mà trong đó chủ yếu chỉ tập trung vào một giải pháp là “yêu cầu vốn tối thiểu” mà chưa đề cập đến rủi ro thị trường cũng như rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Năm 2004, Ủy ban Basel lại ban hành bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực từ năm 2007.
Basel II chủ yếu dựa trên 3 trụ cột chính: Trụ cột 1 liên quan đến việc duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc (CAR vẫn giữ mức tối thiểu 8% nhưng có sự thay đổi về hệ số rủi ro của các tài sản). Đồng thời cách tính cũng có sự thay đổi : Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Với yêu cầu một tỷ lệ 4% vốn cấp 1 (gồm cổ phần phổ thông và dự trữ được công bố) và 8% đối với vốn cấp 2 (tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, dự trữ không được công bố, nguồn vốn gia tăng từ trái phiếu chuyển đổi/cổ phiếu ưu đãi/nợ thứ cấp khác). Trụ cột 2-3 liên quan đến việc hoạch định các chính sách trong công tác giám sát, thanh tra và hoạt động liên quan đến việc công bố thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường. Tuy không có nhiều tác động đến hệ số an toàn vốn nhưng quy định này đòi hỏi sự công khai minh bạch phù hợp đúng với thông lệ quốc tế.
Vào thời điểm bắt đầu triển khai, Basel II có thể được xem là khung đánh giá rủi ro ngân hàng khá toàn diện. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 chứng tỏ Basel II còn khá nhiều nhược điểm, nó hoàn toàn chưa lường hết những rủi ro có thể xảy ra khi đối mặt với chu kỳ của một nền kinh tế, đặc biệt chưa chú trọng vào vấn đề thanh khoản dẫn đến việc phá sản của nhiều ngân hàng. Do đó, vào 12/09/2010 Uỷ ban Basel đã công bố Hiệp ước Basel III với các tiêu 5 chuẩn mới với những thay đổi về cấu trúc vốn, thêm yêu cầu về tỷ lệ đòn bẩy, đưa ra các tiêu chuẩn mới về tính thanh khoản nhằm cũng cố các quy định, giám sát, quản lý rủi ro của ngành ngân hàng nhằm khắc phục những điểm thiếu sót của Basel II. Bộ tiêu chuẩn Basel III có hiệu lực từ 2013 với những điểm thay đổi đáng chú ý sau (lộ trình thực hiện Basel III theo Phụ lục 2): Thứ nhất: rà soát lại các tiêu chuẩn nhằm nâng tỷ trọng và chất lượng nguồn vốn, cao chất lượng vốn cấp 1 và vốn cấp 2, khấu trừ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn, chẳng hạn các khoản vốn được đầu tư vào các tổ chức tài chính khác vượt mức giới hạn 15% sẽ được khấu trừ vào vốn chủ sở hữu.
Đưa ra tiêu chuẩn tỷ lệ đòn bẩy tối thử nghiệm tối thiểu là 3%, đây là mức tỷ lệ vốn cấp 1 so với tổng tài sản hiện có cộng với các khoản mục ngoại bảng. Chất lượng vốn tốt hơn sẽ giúp ngân hàng khoẻ hơn, chống đỡ tốt hơn trong thời kỳ khó khăn. Thứ hai: yêu cầu các ngân hàng nâng cao chất lượng nguồn vốn, đáng chú ý là việc nâng tỷ trọng vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6% trong đó tỷ trọng vốn cổ đông thường (common equity) tăng mức từ 2% lên 4,5%; Ngoài ra bổ sung thêm mức vốn dự trữ (các tấm vốn đệm dự phòng - vốn đệm bảo toàn vốn và vốn đệm chống hiệu ứng chu kỳ) đảm bảo bẳng vốn chủ sở hữu nằm trong khoảng từ 0 - 2,5% tuỳ theo bối cảnh của mỗi quốc gia và loại bỏ vốn cấp 3 ra khỏi cách tính so với ban đầu.