Đặt vấn đề bằng những câu hỏi mang tính then chốt mà tác giả trong quá trình nghiên cứu sẽ phải làm rõ. Xác định hướng nghiên cứu cụ thể của đề tài, đồng thời làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bài viết cũng bao gồm phần mô tả nội dung và phương pháp nghiên cứu, nổi bật những đóng góp và giá trị mà nghiên cứu mang lại, và cuối cùng là trình bày bố cục tổng quát. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Khái quát rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 2.1 Khái niệm về rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản có nhiều khái niệm khác nhau, theo Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng: "Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng việc giảm nợ hoặc tài trợ vốn cho việc tăng tài sản.
Khi một ngân hàng không có đủ thanh khoản, ngân hàng đó sẽ không thể có đủ vốn để tăng nợ hoặc chuyển đổi tài sản kịp thời với chi phí hợp lý, từ đó tác động tới lợi nhuận. Tác giả Đặng Văn Dân (2015) cho rằng: "Khi ngân hàng không đáp ứng kịp thời được các nghĩa vụ tài chính, không chuyển đổi các loại tài sản ra tiền hoặc cần phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao thì sẽ xảy ra rủi ro thanh khoản". Các nghiên cứu trên về RRTK cho thấy cái nhìn tổng thể khi rủi ro thanh khoản xuất hiện trong thời gian ngắn do phát sinh thanh khoản khi ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ tài chính cần thiết. Rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam khi chưa cung cấp cung cấp sự lưu thông tiền ngắn hạn của mình do sự không đồng nhất giữa tài sản lưu động và các khoản nợ phải trả.
Điều này có thể xảy ra khi ngân hàng gặp khó khăn trong việc duy trì đủ lượng tài sản thanh khoản cao, như tiền mặt hoặc chứng khoán dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, trong khi các khoản nợ hoặc yêu cầu rút tiền từ khách hàng tăng lên đột ngột. Rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng không thể huy động đủ vốn từ các nguồn tài chính khác như vay mượn từ các tổ chức tài chính khác hoặc từ Ngân hàng Nhà nước, hoặc không thể bán tài sản một cách nhanh chóng và với giá hợp lý mà không phải chịu tổn thất lớn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của ngân hàng mà còn có thể gây ra sự 8 mất niềm tin từ phía khách hàng và nhà đầu tư, dẫn đến các hệ lụy nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống tài chính.2 Khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản 2.1 Yếu tố bên trong Quy mô ngân hàng: Về mặt lý thuyết tín hiệu (Spencer, 1973), quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến thanh khoản, tức là khi ngân hàng mở rộng sẽ mang lại tín hiệu tích cực cho ngân hàng. Nhờ đó, tạo động lực cho các ngân hàng mở rộng huy động vốn từ các nguồn vốn khác nhau, tăng tính thanh khoản của ngân hàng.
Tuy nhiên, một hiện tượng ngược lại cũng có thể xuất hiện. Nếu quy mô của ngân hàng mở rộng, điều này có thể dẫn đến giảm thanh khoản của ngân hàng. Điều này có thể xảy ra đặc biệt là đối với các ngân hàng có niềm tin rằng họ "quá lớn để thất bại" (Greg, 2009) các ngân hàng quy mô lớn, đặc biệt nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ trong hoàn cảnh khó khăn thường có xu hướng mạnh mẽ đầu tư vào các tài sản có độ rủi ro cao hơn để tối đa hóa lợi nhuận. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ này thể hiện sự an toàn và an toàn về vốn, và sự lành mạnh tài chính của một ngân hàng.
Tỷ lệ thấp này cho thấy ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro và có thể khiến lợi nhuận của ngân hàng giảm khi chi phí đi vay cao. Đây có thể được coi là sự thay thế cho tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của Basel trong khuôn khổ các quy định về an toàn vốn (Vodova, 2011). Vốn cốt lõi là bộ đệm, tuyến phòng thủ cuối cùng trước các rủi ro khác nhau của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ này được đo bằng cách chia nợ xấu cho tổng các khoản vay.
Trên thực tế, khi nợ xấu tăng, các ngân hàng sẽ phải tiến hành cho vay thận trọng hơn, chưa kể đến việc ngân hàng trung ương kiểm soát để hạn chế cho vay đối với ngân hàng đó. Các ngân hàng buộc phải tăng lợi nhuận từ các hoạt động khác như huy động vốn, xúc tiến dịch vụ. Điều này làm cho thanh khoản tốt hơn. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: Tỷ lệ này được đo bằng cách chia thu nhập sau thuế cho vốn chủ sở hữu.
Do đó, chỉ số này phản ánh hiệu quả điều hành 9 của ngân hàng trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của ROE đối với thanh khoản của các ngân hàng, điển hình là phân tích của Bunda và Desquilbet (2008), Vũ Thị Hồng (2015). Tuy nhiên, một số nghiên cứu tìm thấy tác động tiêu cực của ROE đối với thanh khoản, chẳng hạn như nghiên cứu của Aspachs et al. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài: nghiên cứu Schinasi và Teixeira (2006), Goodhart và Schoenmaker (2006); Schoenmaker và Oosterloo (2007) đã đề cập rằng "ngân hàng nước ngoài có khả năng gia tăng nguy cơ lây lan rủi ro đến hệ thống ngân hàng ở các nước phát triển".
Ngược lại, một số nghiên cứu khác Demirguc-Kunt và cộng sự (1998); Detragiache và Gupta (2004); Freixas và Holthausen (2005) với số liệu từ các nước phát triển đã kết luận rằng “ngân hàng nước ngoài có vai trò ổn định thanh khoản và giúp giảm rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong nước”.2 Yếu tố bên ngoài Tăng trưởng kinh tế: Lý thuyết cho thấy rằng trong thời kỳ suy thoái, ngân hàng thường ưu tiên giữ nhiều tài sản thanh khoản hơn, đánh giá cao việc cẩn trọng khi cho vay để hạn chế rủi ro. Ngược lại, trong những giai đoạn kinh tế phồn thịnh, ngân hàng có thể giảm dự trữ tài sản linh hoạt để tăng khả năng cho vay và giảm sự phụ thuộc vào huy động vốn. Điều này có thể tạo ra khoảng cách tài trợ lớn hơn, đồng thời gia tăng rủi ro thanh khoản Shen và các cộng sự (2023). Tuy nhiên, một góc nhìn khác chỉ ra rằng trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, có nguồn lực tài chính dồi dào và khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ cũng tốt hơn.
Do đó, có sự gia tăng đáng kể trong nguồn cung thanh khoản có thể được kỳ vọng từ phía ngân hàng đặt niềm tin từ các doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát: Được đo lường bằng cách thông qua tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Lạm phát thấp dẫn đến ít biến động hơn, tạo ra một môi trường kinh tế ít rủi ro hơn. Ngược lại, lạm phát cao sẽ làm cho môi trường kinh tế vĩ mô xấu đi, do đó làm giảm thanh khoản của các ngân hàng Vodova (2011).3 Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản Diamond và Cộng sự (1983) đã chứng minh tại sao các ngân hàng nên đo lường RRTK trên cơ sở nhân tố tiền gửi ngân hàng thay cho tổng tài sản sau khi phân tích thanh khoản ngân hàng và phát hiện nếu lượng tiền gửi ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính, thì hiên tượng người dân ồ ạt rút tiền sẽ xảy ra.
Trước năm 2005, rủi ro thanh khoản thường được đo lường từ số liệu BCTC cho đến khi Poorman và Cộng sự (2005) cho rằng "nếu chỉ đo lường rủi ro thanh khoản bằng các hệ số thanh khoản là không đủ, yêu cầu các ngân hàng phải phát triển thêm một góc nhìn mới để đo lường rủi ro thanh khoản".1 Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản bằng khe hở tài trợ Saunders và Cộng sự (2006) đã nghiên cứu sử dụng khe hở tài trợ đo lường rủi ro thanh khoản. Shen và Cộng sự (2009) đã chỉ ra: "để đo lường RRTK, thay vì sử dụng các hệ thống thanh khoản được tính từ báo cáo tài chính của ngân hàng, thì sử dụng khe hở tài trợ để đo lường sẽ có những ưu điểm đó là được tính bằng sự chênh lệch giữa tài sản, nguồn vốn với không chỉ thời điểm hiện tại mà cả ở tương lai". Để đạt được sự ổn định trong thanh khoản không những chỉ đánh giá tại một thời điểm, đảm bảo được an toàn thanh khoản cần đáp ứng được nguồn tài trợ cao hơn các khoản cho vay và ngược lại khi các khoản cho vay vượt quá mức đáp ứng của nguồn tài trợ dễ gây mất cân bằng thanh khoản. Tổng dư nợ tín dụng - Tổng nguồn vốn huy động Khe hở tài trợ = Tổng tài sản 2.2 Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản bằng các hệ số thanh khoản Hai phương pháp mà Voldová (2011) đã giới thiệu để đánh giá rủi ro thanh khoản bằng khe hở tài trợ và hệ số thanh khoản.
Điều này dựa trên những giả định cụ thể, và các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng chúng một cách riêng lẻ. 11 Các tác giả như Aspach và cộng sự (2005), Praet và Cộng sự (2008), và Voldová (2011) sử dụng hệ số thanh khoản để đo lường RRTK. Các hệ số thanh khoản này được họ áp dụng: Tài sản thanh khoản L1= x 100 (%) Tổng tài sản Hệ số L1 cho biết khả năng đáp ứng tức thời so với lượng tài sản. Thường thì các tài sản có mức độ thanh khoản thấp khả năng sinh lời cao và ngược lại, cho nên ngân hàng cần phải đánh giá lại tỉ trọng của sở hữu tài sản.
Tài sản thanh khoản L2= x 100 (%) Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn Hệ số này cho thấy sự quan tâm của NHTM với nguồn huy động trong ngắn hạn, tỷ lệ này càng lớn thì thanh khoản của ngân hàng càng tốt khả năng đáp ứng khách hàng rút tiền trong ngắn hạn được đảm bảo. Tổng cho vay L3= x 100 (%) Tổng tài sản Hệ số năng lực thanh toán của ngân hàng thấp hay cao trên cơ sở so sánh tỷ trọng của dư nợ với tổng tài sản. Tổng cho vay L4= x 100 (%) Tiền gửi+Vốn huy động ngắn hạn Hệ số so sánh giữa số tiền cho vay với số tiền ngân hàng huy động được lớn gấp bao nhiêu lần.