Đặt vấn đề Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng biển đảo đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Từ xưa đến nay, biển đảo Việt Nam đã và đang xảy ra rất nhiều xung đột, tranh chấp với các quốc gia có tuyên bố chủ quyền biển đảo chồng lấn với nhau. Đặc biệt Trung Quốc là quốc gia có tần suất xảy ra xung đột, tranh cấp với nước ta là cao nhất và mang tính quyết liệt nhất từ trận hải chiến Trường Sa năm 1988 cho đến vụ việc tàu hải dương 981 liên tục xâm phạm chủ quyền của nước ta. Việc phát triển kinh tế gắn liền với biển đảo phải mang tính bình vững, lâu dài không vì lợi ích tức thời mà đánh đổi môi trường thiên nhiên như trường hợp của tỉnh Hà Tĩnh với nhà máy Formosa tại khu kinh tế Vũng Án.
Việc xả thải của nhà máy Formosa ra biển đông đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế biển đảo có thể kể như: đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, nghề làm muối,. Biển đông là một vùng biển có vị trí rất quan trọng trong vận tải đường biển, tài nguyên thiên nhiên và quốc phòng an ninh. Việt Nam là một quốc gia nằm phía tây biển đông, nước ta có vùng biển rộng lớn hơn 1 triệu km2, gấp ba lần diện tích đất liền. Việt nam có đường bờ biển dài 3.000 đảo lớn nhỏ với diện tích phần đất nổi khoảng 1.636 km2 có thể kể một số đảo, quần đảo nổi tiếng như Phú quốc, Côn Sơn, Phú Quý, Cát Bà, Hoàng Sa, Trường Sa,.
Tuyến biển có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm: 125 huyện ven biển và 12 huyện đảo với khoảng 20 triệu người sống ở ven bờ và 17 vạn người sống ở các đảo. Vì vậy, việc phát triển kinh tế biển đảo là rất quan trọng. Tính cấp thiết của đề tài Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương". Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: "Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53%-55% của tổng GDP của cả nước.
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vừng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của các nước. Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển." (Đảng Cộng sản Việt Nam 2007) Nghị định số 67/2014/NĐ-CP "Về một số chính sách phát triển thủy sản" năm 2014, Chính phủ đã xác định phương hướng cụ thể cho vay và ưu tiên phát triển ngành Thủy sản. "Tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng và mở rộng cho vay đối với lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biển thủy sản. Chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng thu hồi các khoản nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 nhằm nâng cao chất lượng tín dụng thủy, hải sản.
Đối với nuôi trồng thủy sản: tiếp tục điều tra, khảo sát nắm chắc tình hình nuôi trồng của các chủ nuôi có dư nợ và khách hàng chưa vay ngân hàng. Nắm bắt được các khách hàng đang có kinh nghiệm trong nuôi trồng thủy sản, có năng lực tài chính tốt, có tài sản đảm bảo cho khoản vay và có khả năng trả nợ để tập trung đầu tư vốn. Đối với lĩnh vực chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá: Ngân hàng kết hợp cả đầu tư chế biến nội địa và chế biến xuất khẩu. Trong đó, chế biến xuất khẩu phải lực chọn khách hàng đủ điều kiện, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có khả năng quản lý tổ chức sản xuất tốt, có các hợp đồng tiêu thụ ổn định.
Từ đó nghiên cứu, tư vấn cho khách hàng trong việc thương lượng ký kết hợp đồng xuất khẩu, tránh rủi ro trong khâu thanh toán, đảm bảo an toàn vốn đầu tư. Đối với lĩnh vực khai thác đánh bắt thủy sản: tập trung cho vay nâng cấp phương tiện để nâng cao năng lực khai thác thủy sản. Theo đó, chỉ cho vay mới đối với các phương tiện khai thác có công suất lớn đảm bảo kỹ thuật và an toàn, chủ động phối hợp với chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phương để thẩm định về định mức kỹ thuật của tàu cá, đồng thời nắm bắt các chuyến đi biển của con tàu. Khi ký kết hợp đồng tín dụng, các chủ tàu phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời gian vay vốn, chấp hành đăng ký, đăng kiểm đúng quy định." (Võ Văn Bình 2016) "Bên cạnh đó, trong thời gian tới, các ngân hàng cũng đẩy mạnh việc phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng thu hồi các khoản nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro nhằm nâng cao chất lượng tín dụng thủy, hải sản.
Trong đó, đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, các ngân hàng sẽ tiếp tục điều tra, khảo sát nắm chắc tình hình nuôi trồng của các chủ nuôi đối với cả khách hàng có dư nợ và khách hàng chưa vay. Trong hoạt động kinh tế biển đảo hiện nay, đánh bắt thủy sản chủ yếu bằng tàu công suất nhỏ, ngư dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Trong khi đó, giá xăng dầu tăng giảm bất thường, ngư trường không ổn định, thiên tai nhiều, bị thương lái ép giá nên ngư dân chưa mạnh dạn đầu tư tàu công suất lớn. Do đối mặt với nhiều rủi ro nên ngư dân khó tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để đóng mới tàu, trang bị ngư cụ hiện đại khai thác xa bờ.
Do thường đánh bắt xa bờ, neo đậu ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 các địa phương ngoài tỉnh, nên khó khăn cho ngân hàng cho vay trong việc kiểm tra, quản lý dòng tiền sau khi bán hải sản đánh bắt được. Việc phát mãi tài sản của ngân hàng để thu hồi nợ khi khách hàng không trả được nợ cũng gặp nhiều khó khăn. Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ven biển chủ yếu theo phương thức truyền thống quảng canh và bán thâm canh, do đầu tư ít và có hiệu quả nhưng năng suất thấp. Nguồn nguyên liệu thủy sản không ổn định, do hiện tượng ngư dân chạy theo lợi nhuận trước mắt nên đổ xô vào nuôi trồng khi có giá cao dẫn đến tình trạng lúc thừa, lúc thiếu.
Các doanh nghiệp, thương lái không có sự hợp tác với người nuôi trồng thủy sản dẫn đến tình trạng ngư dân bị ép giá khi thủy sản thừa cũng ảnh hưởng đến ngư dân nuôi trồng thủy sản trong việc trả nợ ngân hàng và càng làm cho ngư dân khó tiếp cận vốn vay." (Võ Văn Bình 2016) Việc phát triển kinh tế biển đảo đóng vai trò quan trọng đối với đất nước trong giai đoạn hiện nay, ảnh hưởng lớn đến kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Việc phát triển kinh tế biển đảo còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có nguồn tín dụng của các ngân hàng. Vì vậy đề tài "Chất lượng tín dụng cho phát triển kinh tế biển đảo tại Việt Nam" là quan trọng và cấp thiết. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu tổng quát Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp mới góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo tại Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể Xác định vai trò của nguồn tín dụng Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam. Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo tại Việt Nam. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1. Nhân tố nào tác động ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam?. Thực trạng chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam hiện nay như thế nào?. Các giải pháp cơ bản quan trọng nào nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của Agribank cho phát triển kinh tế biển đảo bền vững tại Việt Nam?.