chương 1 Chương một đã thể hiện một số nội dung như tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và bố cục của luận văn. Các nội dung còn lại của luận văn sẽ lần lượt được trình bày ở các chương tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ CÁC CHỨNG CỨ THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC VỐN Chương hai trình bày về các lý thuyết cấu trúc vốn, các chứng cứ thực nghiệm về cấu trúc vốn và các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn. Các lý thuyết cấu trúc vốn Có rất nhiều lý thuyết cấu trúc vốn, phần này chỉ trình bày ba lý thuyết cấu trúc vốn.
Đó là lý thuyết M&M, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn và lý thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết M&M Lý thuyết M&M được nghiên cứu bởi hai nhà kinh tế học Modiglian và Miller (M&M) vào năm 1958. Lý thuyết M&M cho rằng, trong thị trường vốn hoàn hảo, giá trị của doanh nghiệp không chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Cho dù doanh nghiệp có điều chỉnh cấu trúc vốn thì giá trị của doanh nghiệp vẫn không thay đổi.
Theo lý thuyết M&M, giá trị của doanh nghiệp được xác định bởi tài sản thực, chứ không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành [9]. Trong thực tế, thị trường vốn không hoàn hảo như các giả định của M&M, nhưng lý thuyết của M&M đã tạo nền tảng quan trọng cho sự ra đời của các lý thuyết cấu trúc vốn sau này. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn được nghiên cứu bởi Modiglian và Miller vào năm 1963. Lý thuyết này ra đời nhằm lý giải về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và giá trị của doanh nghiệp khi có sự hiện diện của thuế thu nhập doanh nghiệp và kiệt quệ tài chính.1: Lượng nợ tối ưu và giá trị của doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp Giá trị của doanh nghiệp theo lý thuyết M&M khi có nợ và thuế PV (chi phí kiệt quệ Giá trị tài chính) doanh nghiệp lớn nhất PV (tấm Giá trị thực của chắn thuế) doanh nghiệp Giá trị của doanh nghiệp không vay nợ Nợ (B) B* Nguồn: Corporate Finance, sixth edition Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng giá trị của doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của tấm chắn thuế và trừ cho hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính.
Nội dung của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn được thể hiện qua công thức sau: Giá trị của doanh nghiệp có vay nợ = Giá trị doanh nghiệp không vay nợ + PV (tấm chắn thuế) – PV (chi phí kiệt quệ tài chính) Hình 2.1 cho thấy khi các doanh nghiệp gia tăng nợ thì họ sẽ thu được lợi ích bằng hiện giá của tấm chắn thuế, lợi ích này sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp có vay nợ. Tuy nhiên, giá trị của doanh nghiệp không tăng mãi theo lượng nợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 vay, mà giá trị này có xu hướng giảm dần sau khi đạt tới điểm vay nợ tối ưu B*. Lý do là vì khi doanh nghiệp gia tăng nợ thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng sẽ tăng theo, chi phí này sẽ làm giảm lợi ích của tấm chắn thuế. Tại điểm B*, sự gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính bằng với sự gia tăng trong hiện giá của tấm chắn thuế, giá trị của doanh nghiệp có vay nợ sẽ đạt mức tối đa.
Nếu doanh nghiệp tiếp tục tăng nợ thì sự gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính sẽ tăng vượt quá sự gia tăng trong hiện giá của tấm chắn thuế, khi đó giá trị của doanh nghiệp có vay nợ sẽ bắt đầu suy giảm. Như vậy, việc sử dụng nhiều nợ không phải lúc nào cũng tốt. Khi xây dựng tỷ lệ nợ mục tiêu, các giám đốc tài chính cần có sự cân nhắc giữa những mặt lợi ích thu được và mặt thiệt hại từ việc sử dụng nợ. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn rất thành công trong việc giải thích sự khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành.
Tuy nhiên, lý thuyết này không thể giải thích được tại sao một số công ty thành công nhất trong cùng ngành lại sử dụng rất ít nợ. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của lý thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu đầu tiên bởi Donaldson vào năm 1961, và sau đó lý thuyết này được phát triển thêm bởi Myers và Majluf vào năm 1984. Bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng, lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các doanh nghiệp sẽ ưu tiên tài trợ cho các dự án bằng nguồn tài trợ nội bộ trước tiên.
Sau khi nguồn tài trợ nội bộ đã được sử dụng hết, các doanh nghiệp mới sử dụng đến nguồn tài trợ bên ngoài. Trong trường hợp các doanh nghiệp cần đến nguồn tài trợ bên ngoài, họ sẽ ưu tiên vay nợ trước, rồi sau đó mới phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hành vốn cổ phần. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, khi các doanh nghiệp phát hành cổ phần mới thì họ không những phải gánh chịu các chi phí phát hành mà còn phải gánh chịu thêm các chi phí khác có liên quan đến vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường tài chính. Chính vì vậy mà nguồn tài trợ từ vốn cổ phần sẽ đắt hơn nguồn tài trợ từ nội bộ và nợ.
Điều này đã dẫn đến một trật tự phân hạng trong việc lựa chọn cấu trúc vốn. Lý thuyết trật tự phân hạng rất thành công trong việc giải thích hành vi vay rất ít nợ của các doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, lý thuyết này đã không thể giải thích được sự khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa các ngành. Các chứng cứ thực nghiệm về cấu trúc vốn Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn trên thế giới.
Phần này chỉ trình bày một vài chứng cứ thực nghiệm tiêu biểu. Kết quả nghiên cứu CTV tại Ấn Độ Ali (2011) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 170 doanh nghiệp dệt Ấn Độ niêm yết trên SGDCK Bombay trong giai đoạn 2006 – 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố quy mô doanh nghiệp, tấm chắn thuế phi nợ và tài sản hữu hình tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Trong khi đó, nhân tố cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận tương quan nghịch với tỷ lệ nợ.
Pahuja và Sahi (2012) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 30 doanh nghiệp Ấn Độ niêm yết trên SGDCK Bombay trong giai đoạn 2008 – 2010. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố cơ hội tăng trưởng và khả năng thanh khoản tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Các nhân tố lợi nhuận, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quy mô doanh nghiệp và tài sản hữu hình không tác động đến tỷ lệ nợ. Kết quả nghiên cứu CTV tại Iran Ebadi và cộng sự (2011) đã phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 72 doanh nghiệp Iran niêm yết trên SGDCK Tehran trong giai đoạn 2003 – 2009.
Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả này, nhân tố tài sản hữu hình và cơ hội tăng trưởng tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Trái lại, nhân tố khả năng thanh khoản, lợi nhuận và rủi ro kinh doanh tương quan nghịch với tỷ lệ nợ. Kết quả nghiên cứu CTV tại Jordan Al-Qudah (2011) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của 11 doanh nghiệp khai thác mỏ Jordan niêm yết trên SGDCK Amman trong giai đoạn 2005 – 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố lợi nhuận tương quan nghịch với cả ba tỷ lệ nợ (tỷ lệ tổng nợ, tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ nợ dài hạn).
Nhân tố cơ hội tăng trưởng không tác động đến cả ba tỷ lệ nợ. Nhân tố tài sản hữu hình không tác động đến tỷ lệ tổng nợ, nhưng tương quan nghịch với tỷ lệ nợ ngắn hạn và tương quan thuận với tỷ lệ nợ dài hạn. Nhân tố quy mô doanh nghiệp không tác động đến tỷ lệ tổng nợ, nhưng tương quan thuận với tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ nợ dài hạn. Kết quả nghiên cứu CTV tại Malaysia Baharuddin và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 42 doanh nghiệp xây dựng Malaysia niêm yết trên SGDCK Bursa trong giai đoạn 2001 – 2007.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng và tài sản hữu hình tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Trong khi đó, nhân tố lợi nhuận tương quan nghịch với tỷ lệ nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết quả nghiên cứu CTV tại Pakistan Shah và Khan (2007) đã tiến hành kiểm định các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của 286 doanh nghiệp phi tài chính Pakistan niêm yết trên SGDCK Karachi trong giai đoạn 1994 – 2002.
Kết quả kiểm định cho thấy nhân tố tài sản hữu hình tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Nhân tố cơ hội tăng trưởng và lợi nhuận tương quan nghịch với tỷ lệ nợ. Các nhân tố quy mô doanh nghiệp, mức độ biến động thu nhập và tấm chắn thuế phi nợ không tác động đến tỷ lệ nợ. Ahmad và cộng sự (2011) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của 336 doanh nghiệp phi tài chính Pakistan trong giai đoạn 2005 – 2009.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố tài sản hữu hình và tấm chắn thuế phi nợ tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Nhân tố quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh khoản, và tỷ lệ chi trả cổ tức tương quan nghịch với tỷ lệ nợ. Các nhân tố cơ hội tăng trưởng, lợi nhuận và tấm chắn thuế không tác động đến tỷ lệ nợ. Sheikh và Wang (2011) đã tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của 160 doanh nghiệp Pakistan niêm yết trên SGDCK Karachi trong giai đoạn 2003 – 2007.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố quy mô doanh nghiệp tương quan thuận với tỷ lệ nợ. Nhân tố lợi nhuận, tài sản hữu hình, độ biến động thu nhập và khả năng thanh khoản tương quan nghịch với tỷ lệ nợ. Hai nhân tố cơ hội tăng trưởng và tấm chắn thuế phi nợ không tác động đến tỷ lệ nợ. Aurangzeb và Haq (2012) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp dệt Pakistan trong giai đoạn 2004 – 2009.