Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Sử dụng phần mềm Cabri 3D trong dạy học nội dung quỹ tích chương trình hình học lớp 11 Trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hoạt động học tập Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa HĐ dạy của GV và HĐ học của HS, trong đó HĐ học là trung tâm. - Về cấu trúc hoạt động: + Động cơ: Nắm lấy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hay tự hoàn thiện bản thân. + Mục đích: HS phải vượt ra khỏi giới hạn những kiến thức đã có của mình để đạt tới những cái mà các em chưa có.
Vì thế nhiệm vụ học tập thường được đề ra dưới hình thức “bài toán” có vấn đề. + HS giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ vào các hành động học tập cụ thể như: tách các vấn đề từ nhiệm vụ; vạch phương hướng giải quyết trên cơ sở phân tích các mối quan hệ trong tài liệu học tập; mô hình hóa, cụ thể hóa các mối quan hệ đó; kiểm tra tiến trình và kết quả học tập. + Các hành động trên được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, quy nạp, suy luận logic,. Tuy nhiên toàn bộ quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ; tìm tòi và khái quát hóa;.
HĐ dạy và HĐ học có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ, trình tự các bước trong HĐ học hoàn toàn thống nhất với trình tự các bước trong HĐ dạy- nếu GV vạch ra nhiệm vụ, các HĐ học tập sắp tới của HS bằng các biện pháp thích hợp và kích thích thì HS sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ đó, thực hiện 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các HĐ học tập đề ra; nếu GV kiểm tra HĐ của HS và điều chỉnh HĐ dạy của mình thì dưới ảnh hưởng của GV, HS cũng điều chỉnh HĐ của mình. Sự thống nhất của quá trình dạy và học được thể hiện ở sự tương ứng giữa các giai đoạn HĐ của cả GV lẫn HS. Sự thống nhất này tạo nên một hiện tượng hoàn chỉnh mà ta gọi là quá trình dạy học. HĐ học toán của HS là HĐ nhằm lĩnh hội các tri thức, khái niệm, kỹ năng giải quyết các vấn đề toán học.
Nó bao gồm việc định hướng tìm tòi, lập kế hoạch thực hiện, bản thân HĐ và kiểm tra hiệu quả của nó. Vấn đề tâm lý chủ yếu ở đây là hứng thú tìm tòi, lòng ham hiểu biết và mong muốn hoàn thiện bản thân - nếu sự hứng thú không được hình thành thì bản thân sự lĩnh hội sẽ diễn ra thấp hơn nhiều so với tiềm năng sẵn có ở HS. Hoạt động giải toán của học sinh trung học phổ thông Trong HĐ giải toán, HĐ dự đoán chiếm vị trí trung tâm, nó xuất hiện sau khi đã hiểu kỹ đề bài, phải dự đoán giới hạn phạm vi đi tìm lời giải. Tiếp theo trong tư duy diễn ra hai HĐ trí tuệ: huy động và tổ chức kiến thức.
Huy động thường bắt đầu bằng thao tác nhận biết một số yếu tố nào đó chứa đựng trong bài Toán và được tiếp tục bằng thao tác nhớ lại những yếu tố khác đã quen thuộc và có liên quan tới yếu tố vừa nhận biết. HĐ tổ chức bao hàm trong nó thao tác bổ sung và nhóm lại. HĐ tách biệt một chi tiết, một bộ phận ra khỏi cái tổng thể bao quanh nó nhằm tập trung chú ý vào chi tiết, bộ phận đó. HĐ kết hợp lại liên kết những chi tiết, bộ phận đã được xem xét lại với nhau trong cái toàn thể.
Ta có thể sử dụng Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động Tách biệt Nhận biết Nhóm lại Huy động Dự đoán Tổ chức 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhớ lại Bổ sung Kết hợp (trích dẫn theo Nguyễn Lan Phương, 2000) Trong các HĐ này, hoạt động dự đoán đặt ở vị trí trung tâm; các cặp HĐ trí tuệ đối lập nhưng thống nhất như: huy động- tổ chức, tách biệt - kết hợp được đặt ở các đỉnh đối nhau của hình vuông; các thao tác trí tuệ được đặt trên các cạnh của hình vuông ấy. Cơ chế của HĐ được tóm tắt như sau: từ những chi tiết được huy động đi đến cái toàn thể có tổ chức, từ một tổ chức, từ một chi tiết phân biệt, được tách ra để nghiên cứu rồi lại được liên kết lại với nhau có thể dẫn đến việc thay đổi quan niệm của người giải bài toán. Còn các thao tác trí tuệ sẽ xuất hiện khi HS thực hiện các nhiệm vụ nhận thức. Trong quá trình giải toán, cứ mỗi lần trí tuệ vận hành theo cơ chế trên, là một lần HS lại nhìn bài toán ở các khía cạnh khác nhau.
Tất nhiên sẽ có những HĐ không trực tiếp đem lại lời giải của bài toán, nhưng cũng bổ ích bởi ta loại bỏ được một con đường và hơn thế nữa, HS lại một lần nữa được rèn luyện năng lực giải toán. Tóm lại, trong HĐ giải toán nói chung, đặc biệt là những bài toán tìm quỹ tích của HHKG thì HĐ dự đoán là HĐ trọng tâm, là HĐ quan trọng nhất. Có dự đoán thì mới giới hạn được phạm vi đi tìm giải. Tiếp đó trong tư duy diễn ra hai HĐ trí tuệ là động viên và tổ chức kiến thức, mỗi HĐ trí tuệ đó lại có các thao tác tương ứng.
Các HĐ tổ chức, động viên, tách biệt, kết hợp quan hệ mật thiết và logic theo mô hình ở trên. Trong dạy học toán nói chung, dạy học giải những bài toán tìm quỹ tích của HHKG nói riêng HĐ dự đoán đúng hướng và chính xác hơn, phát huy hiệu quả nếu có sự hỗ trợ của CNTT-TT. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tích tích cực hoạt động của học sinh trunghọc phổ thông 1.
Tính tích cực Theo I. Kharlamop [23], “Tính tích cực trong HĐ nhận thức là trạng thái HĐ của HS, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình”. Tính tích cực của con người thể hiện trong HĐ đặc biệt là trong HĐ chủ động của chủ thể. Tính tích cực nhận thức có những đặc điểm sau: - Tính tích cực nhận thức là một trạng thái HĐ của chủ thể đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức.
- Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích HĐ, vừa là kết quả của HĐ. - Tính tích cực nhận thức và tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chúng không đồng nhất. Tính tích cực học tập là hình thức, là bề ngoài của tính tích cực nhận thức. Tuy nhiên thông qua quan sát những biểu hiện của tính tích cực nhận thức trong HS như cử chỉ, hành vi, nét mặt biểu cảm, nhịp điệu, sự biến đổi sinh lý ta có thể quan sát, đo đạc, đánh giá được tính tích cực học tập của HS.
Ta cần phải thông qua các sản phẩm của HS, sự tham gia vào quá trình phát hiện, xây dựng khái niệm để đánh giá tính tích cực của HS. Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức của học sinh Theo các nhà nghiên cứu giáo dục, có thể nhận biết được tính tích cực nhận thức của HS có thể căn cứ vào một số yếu tố như cảm xúc của HS, hành vi và cử chỉ; sự thích thú được tìm hiểu; thái độ và tinh thần (sự quyết tâm; các HĐ như thường xuyên hỏi, thắc mắc những điều chưa rõ; tính liên tục của HĐ). Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để phát huy tính tích cực của HS trong nhận thức ta phải tác động vào các nhân tố như kích thích hứng thú, gợi động cơ, rèn luyện năng lực, kích thích ý chí, kích thích nhu cầu, tạo môi trường học tập thuận lợi bằng nhiều hướng như kết hợp nhuần nhuyễn các PPDH, đặc biệt là PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề; kiến thức được trình bày dưới dạng động, sử dụng các hình thức dạy học khác nhau như dạy học theo nhóm, cá thể hóa trong dạy học; chú trọng việc xây dựng các HĐ, các tình huống dạy học, các tình huống có vấn đề để HS học tập trong HĐ và bằng HĐ; tăng cường sử dụng và phối hợp với các phương tiện dạy học, đặc biệt là tăng cường ứng dụng CNTT-TT trong dạy và học. Đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Do nhu cầu của xã hội: phát triển kinh tế, tri thức và phương tiện dạy học, sự phát triển của các lĩnh vực khoa học liên quan: tâm lý, sư phạm và bản thân PPDH: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của HS; bồi dưỡng năng lực tự học.
Lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục 1998). Với định hướng tích cực hoá HS, đổi mới PPDH sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục THPT nói riêng, tạo điều kiện để cá thể hoá dạy học và khuyến khích dạy học phát hiện những kiến thức trong bài học. Từ đó phát triển được các năng lực, sở trường của từng HS. Theo Nguyễn Bá Kim [25] (tr.
113-114), PPDH ở nước ta hiện nay còn có những nhược điểm phổ biến như: (1). GV thuyết trình tràn lan. Tri thức được truyền thụ dưới dạng có sẵn, ít yếu tố tìm tòi phát hiện. GV thường áp đặt kiến thức, HS thụ động.
Thiên về dạy, yếu về học, thiếu HĐ tự giác, tích cực và sáng tạo của HS. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Không kiểm soát được việc học. Cũng theo Nguyễn Bá Kim [25] việc đổi mới PPDH phải chú ý tới một số đặt trưng sau: (1).
Xác lập vị trí chủ thể của HS, bảo đảm tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của HĐ học tập được thể hiện độc lập hoặc trong giao lưu. Tri thức được cài đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm. Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học. Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người.
Tạo niềm lạc quan học tập tạo thuận lợi cho quá trình học tập của HS. Xác định vai trò mới của GV với tư cách người thiết kế, uỷ thác điều khiển và thể chế hoá.