Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát chung về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 1. Quan niệm về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 1. Định nghĩa Trong thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội, hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường là chân lý cốt yếu nếu bên bị xâm phạm và bị thiệt hại là lợi ích được cộng đồng, nhà nước bảo vệ. Do vậy, bồi thường (hay bồi thường thiệt hại) là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật.
Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau thì việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức, hình thức và phương thức bồi thường. Nhưng pháp luật cũng như tập quán đều ghi nhận một nguyên tắc chung nhất là: “Người gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại”.440] Xem xét vấn đề dưới góc độ pháp lý có thể nhận thấy, mỗi một cá nhân tồn tại trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lao động nói riêng là một quan hệ pháp luật lao động, theo đó người gây ra thiệt hại trong những điều kiện mà pháp luật quy định phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật của họ gây ra. Trong quan hệ nghĩa vụ này bên bị thiệt hại được coi là người có quyền và có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại là người có nghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại đã xảy ra. Ý nghĩa, vai trò của bồi thường thiệt hại trong luật lao động Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản mà người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ gây ra cho chủ thể khác.442] Việc quy định chế độ bồi thường thiệt hại trong luật lao động là sự cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm góp phần đảm bảo quyền hiến định của người sử dụng lao động.
Đồng thời đây cũng là việc hiện thực hóa một trong các nguyên tắc cơ bản của luật lao động, đó là nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Hơn nữa, việc bồi thường thiệt hại còn đảm bảo cho sự đền bù lại toàn bộ hoặc một phần thiệt hại cho người bị thiệt hại, góp phần vào việc đảm bảo và tăng cường kỷ luật, nâng cao ý thức của người lao động trong việc chấp hành kỷ luật lao động ở đơn vị, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác [20, tr. Khi người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì áp dụng cơ chế bồi thường riêng, chủ yếu là bồi thường do vi phạm gây nên. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngược lại, nếu NSDLĐ gây thiệt hại cho người lao động thì áp dụng cơ chế bồi thường khác, trong đó có những khoản bồi thường thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định hợp đồng lao động, có loại thuộc phạm vi của chế định bảo hộ lao động.
Bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường trực tiếp hoặc nhờ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp giúp đỡ để buộc bên đã gây ra thiệt hại phải bồi thường. Tuy nhiên, trong trường hợp NLĐ gây thiệt hại về tài sản của NSDLĐ thì NSDLĐ có quyền buộc NLĐ gây thiệt hại phải bồi thường dưới hình thức quyết định và quyết định đó có giá trị pháp lý. Các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động luôn hướng tới mục tiêu là hành vi thực hiện việc bồi thường, chính vì vậy, đối tượng của quan hệ được xác định là khoản bồi thường hay giá trị của khoản bồi thường đó tính bằng tiền [19]. Điều chỉnh pháp luật về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động 1.
Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Trong lao động, quan hệ về bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm gánh chịu những hậu quả bất lợi của chủ thể vi phạm các quy định của pháp luật.22] Trong luật dân sự, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Luật Thương mại thì ghi nhận thiệt hại là những tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị mất hoặc giảm sút một bên phải gánh chịu khi bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ hợp đồng [23, tr. Về mặt lý luận nhà nước và pháp luật, khi một quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì trở thành quan hệ pháp luật.
Tuy nhiên, không phải quan hệ xã hội nào cũng đều được quy phạm của tất cả các ngành luật điều chỉnh mà mỗi ngành luật có đối tượng riêng của nó. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động cũng như vậy. Trong số các quan hệ lao động trong đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động làm công ăn lương, quan hệ lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động giữa NLĐ làm công ăn lương với NSDLĐ [20,tr. Theo pháp luật lao động hiện hành ở nước ta, QHLĐ do pháp luật lao động điều chỉnh khác với QHLĐ giữa cán bộ, công chức, viên chức với thủ trưởng cơ quan nhà nước được điều chỉnh bởi pháp luật hành chính.
Sự khác biệt này xuất phát từ bản chất của hai loại QHLĐ này, nếu nhóm thứ nhất dựa trên sự bình đẳng, thỏa thuận giữa các chủ thể trong quan hệ lao động thì QHLĐ thuộc nhóm thứ hai mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, nhất là trong quá trình quản lý lao động của thủ trưởng cơ quan nhà nước. Như vậy, quan hệ lao động thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động là quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động. Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động được người sử dụng lao động giao quản lý, sử dụng tài sản phù hợp với trình độ, khả năng của họ nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình sản xuất, công tác. Người lao động phải có nghĩa vụ bảo quản, sử dụng tốt các tài sản đó.
Nếu làm hư hỏng hay mất mát thì người lao động không những bị xử lý kỷ luật mà còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động những thiệt hại mà mình đã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây ra. Như vậy, bồi thường thiệt hại về vật chất trong quan hệ lao động là nghĩa vụ của NLĐ phải bồi thường những thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ do hành vi vi phạm kỉ luật lao động, vi phạm hợp đồng trách nhiệm gây ra.318] Theo Luật lao động Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện: Thứ nhất, có hành vi trái kỷ luật lao động hoặc các cam kết, thỏa thuận trong quan hệ lao động. Hành vi này thể hiện ở việc NLĐ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ chấp hành kỷ luật lao động. Về mặt hình thức, hành vi trái kỷ luật lao động thể hiện ở hành vi trái với nội quy lao động.
Hành vi của NLĐ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường cũng có thể là hành vi trái với các cam kết, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động.418] Thứ hai, có thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ là điều kiện bắt buộc cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.419] Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái kỷ luật lao động hoặc hợp đồng trách nhiệm và thiệt hại xảy ra. Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm với thiệt hại xảy ra là chứng minh rằng thiệt hại đó là do hành vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm gây ra. Nói cách khác, nguyên nhân của thiệt hại chính là hành vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm của NLĐ.
Đây cũng là một trong những điều kiện bắt buộc cho việc áp dụng trách nhiệm vật chất. NLĐ không phải bồi thường cho NSDLĐ nếu không có mối quan hệ nhân quả 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa hành vi trái kỷ luật hoặc hợp đồng trách nhiệm với thiệt hại xảy ra.420] Thứ tư, có lỗi của người vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra. NLĐ bị coi là có lỗi khi họ có thể lựa chọn hành vi xử sự khác phù hợp nhưng vẫn thực hiện hành vi trái với kỷ luật lao động hoặc hợp đồng trách nhiệm, gây thiệt hại cho NSDLĐ.
NLĐ được coi là không có lỗi, và do đó không phải bồi thường cho NSDLĐ nếu gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng.