CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỘNG LAO ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT 1.1 Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 1.1 Thế nào là bồi thường thiệt hại Theo Từ điển tiếng Việt, bồi thường là “Đền bù những tổn hại đã gây ra1” , còn thiệt hại là “Mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của”2. Từ hai khái niệm này có thể hiểu, bồi thường thiệt hại là sự đền bù những tổn hại, mất mát, hư hỏng nặng đã gây ra cho người và của. Còn theo Từ điển Luật học, thiệt hại là “Tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ3” , bồi thường là “Bù đắp những thiệt hại về vật chất, tinh thần do mình gây ra cho người khác. Do không thực hiện, thực hiện chậm, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự hay vi phạm pháp luật4”.
Và Từ điển Luật học còn định nghĩa, bồi thường thiệt hại là “Hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại5”. Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại. Vì là một loại trách nhiệm dân sự nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm dân sự nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho 1 Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr 191. 2 Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr 1571.
3 Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 713. 4 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr 58. 5 Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa & NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 84. 10 người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước,.trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn có những đặc điểm riêng như chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, điều kiện phát sinh trách nhiệm là có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ra thiệt hại với thiệt hại xảy ra và có lỗi của người gây ra thiệt hại,… 1.2 Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình bên vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Theo Lý luận về nhà nước và pháp luật “Trách nhiệm pháp lý bao giờ cũng là trách nhiệm của các chủ thể vi phạm pháp luật trước nhà nước. Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành xem xét và xử lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật bằng cách buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật6” Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật lao động điều chỉnh chỉ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ lao động. Hành vi vi phạm gây thiệt hại của các chủ thể phải là hành vi liên quan đến quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động. Những hành vi gây thiệt hại của những chủ thể không phải là chủ thể quan hệ lao động hoặc là của chủ thể lao động gây ra nhưng không phải trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động thì cũng không do pháp luật lao động điều chỉnh.
Việc bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động được thể hiện ở các trường hợp sau: Bồi thường thiệt hại về tài sản: Thông thường, trách nhiệm này là của NLĐ do hành vi gây thiệt hại vật chất cho NSDLĐ. Bồi thường thiệt hại về tính mạng và sức khỏe: Đây là trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ trong trường hợp NLĐ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 496 11 Bồi thường thiệt hại khi chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật: Trách nhiệm này thuộc về cả hai chủ thể trong quan hệ lao động khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động.
Tuy không thể tìm thấy khái niệm trực tiếp về bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động qua các văn bản pháp luật lao động Việt Nam, nhưng qua khái niệm về trách nhiệm pháp lý theo lý luận nhà nước pháp luật và các trường hợp bồi thường thiệt hại được quy định trong pháp luật lao động, có thể hiểu: “Bồi thường thiệt hại trong pháp luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi một bên trong quan hệ lao động có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường về tài sản, tính mạng, sức khỏe và quyền lợi hợp pháp khác theo quy định của pháp luật lao động”.3 Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật BLLĐ hiện hành và các văn bản hướng dẫn không có một định nghĩa trực tiếp nào về khái niệm bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, mà chỉ đưa ra các trường hợp để bên có hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật phải bồi thường đối với bên bị thiệt hại7 : Người sử dụng lao động có hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải bồi thường trong các trường hợp sau: i) Trường hợp NSDLĐ nhận NLĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã ký thì phải bồi thường cho NLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương theo HĐLĐ8 ; ii) Trường hợp NLĐ không muốn trở lại làm việc thì thì NSDLĐ phải bồi thường cho NLĐ các khoản tiền sau: một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương theo HĐLĐ; một khoản tiền trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có)9 ; iii)Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý thì 7 Điều 41 BLLĐ năm 2019 8 Khoản 1 Điều 41 BLLĐ năm 2019 9 Khoản 1 Điều 41 BLLĐ năm 2019 12 NSDLĐ phải bồi thường cho NLĐ các khoản tiền sau: một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương theo HĐLĐ; một khoản tiền trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương theo HĐLĐ; một khoản tiền bồi thường thêm do hai bên thỏa thuận để chấm dứt HĐLĐ10. Người lao động có hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì không được nhận trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương và một khoản tương ứng với những ngày không báo trước11; chi phí đào tạo (nếu có) bao gồm các khoản chi phí cho người dạy, tài liệu học tập, trường lớp, máy móc thiết bị, vật liệu thực hành và các chi phí khác hỗ trợ cho người học do người sử dụng lao động tính có sự thoả thuận của người lao động12. Bồi thường về thời hạn báo trước: Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, bên vi phạm thời hạn báo trước theo quy định pháp luật thì phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước13. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu việc “Bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật” chính là việc “bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật”, vì khi người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động (hành vi đơn phương) hoặc không tuân thủ theo các giao kết trong hợp đồng là đã phát sinh trách nhiệm pháp lý phải bồi thường không nhất thiết phải có sự kiện “gây ra thiệt hại” mới phát sinh trách nhiệm.
Từ đó ta có thể định nghĩa: “Bồi thường khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là việc bồi thường khi một bên có hành vi vi phạm phải bồi thường một khoản tiền cho bên bị thiệt hại tương ứng với từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định; bồi thường thời hạn báo trước nếu có vi phạm theo quy định pháp luật; người lao động phải bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) theo quy định pháp luật”. Khoản 2 Điều 40 BLLĐ năm 2019 11 Khoản 2 Điều 40 BLLĐ năm 2019 12 Khoản 2 Điều 40 BLLĐ năm 2019. 13 Khoản 2 Điều 41 BLLĐ năm 2019 13 1.4 Chủ thể bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Trách nhiệm bồi thường khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật phát sinh trực tiếp từ quan hệ lao động nên chủ thể bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cũng chính là chủ thể quan hệ lao động, bao gồm NLĐ làm công ăn lương và NSDLĐ.1 Người lao động BLLĐ Việt Nam hiện hành quy định người lao động bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài14. Theo đó, NLĐ chỉ có thể là cá nhân.
Mặc dù Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”15, nhưng không phải mọi công dân đều là chủ thể của quan hệ lao động với tư cách là NLĐ. Để trở thành chủ thể của quan hệ lao động công dân ấy phải thỏa mãn những điều kiện nhất định: Năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động.