Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật với đề tài "Bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong các vụ việc xâm phạm sức khỏe con người, từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Phương Thanh (Khóa QH-2018-L, Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn vào năm 2022.
Sức khỏe con người là vốn quý của cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Hành vi xâm phạm sức khỏe không chỉ gây tổn hại trực tiếp cho nạn nhân về thể chất, tâm lý mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến người thân và trật tự an toàn xã hội. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mang tính phổ biến. Mặc dù hệ thống pháp luật đã có nhiều sửa đổi tiến bộ nhằm điều chỉnh chế định này, thực tiễn áp dụng pháp luật tại các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Các khó khăn điển hình bao gồm: việc xác định thiệt hại thực tế, tiêu chí quy đổi tổn thất tinh thần sang giá trị kinh tế, phân định lỗi trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại hoặc bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ/súc vật gây ra.
Tại địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, số lượng các vụ án liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại được thụ lý giải quyết tương đối lớn (năm 2019: 17 vụ; năm 2020: 19 vụ; năm 2021: 14 vụ). Quá trình xét xử và hòa giải của Tòa án nhân dân thành phố Vinh vẫn gặp phải những vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật chưa cụ thể, từ nhận thức của đương sự và từ chính quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ của cơ quan xét xử.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác giải quyết, xét xử các vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu những vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự và phần trách nhiệm dân sự trong các vụ án hình sự liên quan đến sức khỏe bị xâm hại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
- Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại tại Tòa án nhân dân cấp huyện/thành phố.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong các vụ việc xâm hại sức khỏe con người từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn xét xử, giải quyết và áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: Số liệu, hồ sơ, sổ thụ lý, kết quả giải quyết, bản án và quyết định được thu thập chủ yếu từ năm 2015 đến năm 2019 (kèm theo các dữ liệu cập nhật đến giai đoạn 2020–2021).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người.
Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu và đánh giá bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 19 và Điều 20 về quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (trọng tâm là Chương XX về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590, Điều 591, Điều 601; các quy định về nghĩa vụ chậm trả tại Điều 357, Điều 468).
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (Chương XIV về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự: Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 138, Điều 141, Điều 146, Điều 260...).
- Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Khoản 3 Điều 114 về biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm).
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 44 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của TAND cấp huyện).
- Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng trong toàn bộ công trình:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong cả 3 chương để làm rõ các khái niệm lý luận, cấu trúc trách nhiệm bồi thường, các điều khoản luật định và hệ thống hóa các giải pháp.
- Phương pháp thống kê số liệu và tài liệu: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để phân loại số lượng án thụ lý, tỷ lệ các nhóm vụ việc hình sự, dân sự, các khoản bồi thường được chấp nhận hoặc bác bỏ.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Áp dụng tại Chương 2 nhằm đối chiếu giữa yêu cầu bồi thường của đương sự và phán quyết thực tế của Tòa án qua từng bản án cụ thể.
- Phương pháp chứng minh: Làm rõ những mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý và nguyên nhân dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn xét xử tại Chương 2.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát hoạt động tiếp nhận đơn khởi kiện, quá trình hòa giải và diễn biến tại các phiên tòa sơ thẩm của TAND thành phố Vinh.
Tác giả kế thừa và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quỳnh Anh (2011), Đào Thảo Ly, Phạm Thị Hương (2014), cùng các bài báo khoa học của Phạm Văn Bằng (2014), Ngô Thu Trang (2019), Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Nguyễn Văn Hợi (2011).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong các vụ việc xâm phạm sức khỏe con người
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở khoa học và pháp lý về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
- Khái niệm và đặc điểm: Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là một dạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, phát sinh khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ra thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại. Đặc điểm đặc thù bao gồm: bên gây thiệt hại phải bồi thường cả tổn thất vật chất lẫn tổn thất tinh thần; người không trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm vẫn có thể phải bồi thường (như chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ theo Điều 601 BLDS 2015); loại trừ trách nhiệm trong trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
- Ý nghĩa: Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân, khôi phục tình trạng vật chất và bù đắp tinh thần cho nạn nhân, răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và giữ gìn trật tự xã hội.
- Nguyên tắc bồi thường (Điều 585 BLDS 2015): Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự; giảm mức bồi thường nếu bên gây thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế; điều chỉnh mức bồi thường khi thực tế thay đổi (biến động giá cả, thay đổi mức độ thương tật); không bồi thường phần thiệt hại phát sinh do lỗi của chính bên bị thiệt hại hoặc do bên bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết.
- Nội dung bồi thường (Điều 590 BLDS 2015):
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút (tiền thuốc, viện phí, xét nghiệm, phẫu thuật, lắp bộ phận giả, thuê phương tiện cấp cứu...).
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (áp dụng thu nhập trung bình của lao động cùng loại nếu thu nhập không ổn định).
- Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần (do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định).
- Hình thức và phương thức bồi thường: Hình thức chủ yếu là bồi thường bằng tiền; phương thức thanh toán có thể một lần hoặc nhiều lần. Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì được hưởng bồi thường định kỳ hàng tháng cho đến khi chết, kèm theo nghĩa vụ cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Bên chậm thi hành án phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 BLDS 2015.
Chương 2: Thực trạng bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong xét xử các vụ việc xâm phạm sức khỏe con người của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Chương 2 phân tích các điều kiện thực tế, thống kê tình hình thụ lý và mổ xẻ các vụ án điển hình tại TAND thành phố Vinh:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và cơ cấu tổ chức: Thành phố Vinh có diện tích 105 km², dân số năm 2019 là 339.114 người (mật độ 3.230 người/km²; dân số đô thị chiếm 68%). Lực lượng lao động trong độ tuổi là 218.106 người. Thành phố có hệ thống y tế gồm 5 bệnh viện lớn với hơn 5.000 giường bệnh, 120 trường học và mạng lưới giao thông phức tạp. TAND thành phố Vinh thực hiện thẩm quyền sơ thẩm theo Luật Tổ chức TAND năm 2014 trong bối cảnh biên chế tinh giản nhưng áp lực án gia tăng.
- Tình hình tội phạm và tranh chấp: Trung bình mỗi năm TAND thành phố Vinh thụ lý giải quyết khoảng 400 vụ việc các loại. Trong đó:
- Án hôn nhân và gia đình: ~265 vụ (chiếm 66,25%).
- Án hình sự: ~70 vụ (chiếm 17,5%), riêng nhóm tội xâm hại sức khỏe chiếm khoảng 10 vụ/năm.
- Án dân sự: ~40 vụ (chiếm 10%), các tranh chấp bồi thường sức khỏe chiếm khoảng 5–6 vụ/năm.
- Án kinh doanh thương mại: ~20 vụ (chiếm 5%).
- Án lao động: ~5 vụ (chiếm 1,25%).
- Tổng số vụ việc liên quan đến xâm phạm sức khỏe con người dao động từ 15 đến 16 vụ/năm.
Bảng tổng hợp các vụ án điển hình được phân tích trong khóa luận:
| Bản án / Quyết định |
Tội danh / Quan hệ pháp luật |
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe |
Yêu cầu của người bị hại / Đương sự |
Phán quyết của TAND TP. Vinh |
| Bản án số 59/2020/HSST (30/11/2020) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: Đ. Quyết, N. H. Hòa, V. V. Đại, V. Hoàng; Bị hại: N. Trường) |
13% |
Yêu cầu bồi thường theo chi phí thực tế |
Tòa hòa giải thành: Bồi thường toàn bộ 30.000.000 đồng (nhận trực tiếp 13 triệu, nộp Chi cục THADS 17 triệu). Phạt tù từ 6–9 tháng (3 bị cáo hưởng án treo). |
| Bản án số 30/2021/HSST (29/05/2021) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: N. Q. Tùng; Bị hại: P. Quân) |
47% |
Yêu cầu bồi thường các chi phí tổn hại sức khỏe |
Xác định lỗi hỗn hợp (bị hại đạp vào lưng bị cáo trước). Hòa giải bồi thường 30.000.000 đồng; phạt bị cáo 3 năm tù. |
| Bản án số 43/2021/HSST (31/08/2021) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: N. V. T. Trí; Bị hại: T. V. Hảo) |
5% |
Đòi bồi thường 33.678.705 đồng (viện phí, thuốc, bồi dưỡng, tiền lương mất 14,6 triệu, tổn thất tinh thần...) |
Tòa chỉ chấp nhận 12.444.727 đồng (gồm viện phí thực tế, trạm y tế 400.000 đ, giám định 229.000 đ, quần áo hỏng 1,1 triệu, mất thu nhập 11 ngày x 200.000 đ, người chăm sóc 10 ngày x 200.000 đ, tổn thất tinh thần 2 triệu, giảm thu nhập sau ra viện 2 triệu). Phạt bị cáo 6 tháng tù. |
| Bản án số 09/2020/HSST (27/02/2020) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: T. T. Minh; Bị hại: ông Huê) |
12% |
Đòi bồi thường 88.470.000 đồng (gồm mất thu nhập 75 ngày x 390.000 đ = 29,25 triệu; tổn thất tinh thần 30 tháng lương cơ sở = 44,7 triệu...) |
Tòa chấp nhận 34.735.000 đồng (viện phí 9,637 triệu, xe đi lại 800.000 đ, chăm sóc 1,8 triệu, tổn thất tinh thần 5 tháng lương cơ sở = 7,45 triệu, mất thu nhập 75 ngày x 200.000 đ = 15 triệu). Phạt bị cáo 24 tháng tù treo. |
| Bản án số 23/2019/HSST (25/04/2019) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: T. V. Hoàng, H. Q. Trương; Bị hại: ông Đảng) |
85% (sau giám định lại 5%, sau đó chết ngày 18/01/2019) |
Đại diện bị hại yêu cầu bồi thường cấp cứu, điều trị và tính mạng bị xâm phạm |
Tòa tuyên phạt Hoàng 5 năm tù, Trương 2 năm tù; buộc hai bị cáo liên đới bồi thường một lần tổng cộng 250.000.000 đồng. |
| Bản án số 55/2018/HSST (09/11/2018) |
Cố ý gây thương tích (Bị cáo: N. T. Hữu; Bị hại: C. T. Lệ) |
21% |
Yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng |
Tòa xem xét chấp nhận dựa trên tính chất hành vi và mức độ tổn hại thực tế. |
- Đánh giá kết quả đạt được: Tòa án nhân dân thành phố Vinh cơ bản giải quyết án trong thời hạn luật định; thủ tục thụ lý, cung cấp chứng cứ tuân thủ cải cách tư pháp; các đối tượng yếu thế (dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già, người tàn tật) đều được chỉ định trợ giúp pháp lý hoặc luật sư; chú trọng công tác hòa giải đối thoại; tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán ở mức rất thấp, không có kháng nghị.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Về phía luật pháp: Quy định về mức bù đắp tổn thất tinh thần còn mang tính định khung trần (tối đa 50 lần mức lương cơ sở), thiếu tiêu chí định lượng cụ thể cho từng mức độ thương tật; chưa có hướng dẫn chi tiết thay thế Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP đối với BLDS 2015.
- Về phía đương sự: Người bị hại thường không giữ hóa đơn chứng từ y tế, tự điều trị tại nhà khi va chạm nhẹ; bên gây thiệt hại trốn tránh, thiếu thiện chí hợp tác.
- Về phía Tòa án: Thiếu biên chế Thẩm phán; tâm lý một số Thẩm phán chọn việc dễ làm trước để đạt chỉ tiêu, e ngại án khó bị hủy sửa ảnh hưởng tái bổ nhiệm; công tác thu thập chứng cứ, giám định thương tật, định giá tài sản phối hợp liên ngành còn chậm chạp.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại trong xét xử các vụ việc xâm phạm sức khỏe con người của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Chương 3 trình bày các quan điểm chỉ đạo và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử:
- Quan điểm chỉ đạo:
- Quán triệt bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013 và các Nghị quyết về cải cách tư pháp của Đảng.
- Bảo đảm xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm; xử lý nghiêm khắc đối tượng chủ mưu, cầm đầu.
- Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đẩy mạnh hòa giải dân sự trên nguyên tắc tự nguyện.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, Thẩm phán Tòa án trong sạch, vững mạnh, tinh thông nghiệp vụ.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện và tổ chức thực hiện:
- Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới hướng dẫn áp dụng thống nhất Chương XX Bộ luật Dân sự 2015, quy định tiêu chí lượng hóa mức bồi thường tổn thất tinh thần theo từng khung tỷ lệ phần trăm thương tật.
- Nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của Thẩm phán trong việc đánh giá chứng cứ, xác minh thu nhập thực tế của đương sự và xác định mức độ lỗi hỗn hợp.
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và các cơ quan giám định pháp y nhằm rút ngắn thời gian có kết luận giám định.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sâu rộng tại cơ sở, nâng cao nhận thức của người dân về việc thu thập, lưu giữ chứng cứ y tế khi xảy ra tranh chấp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được các kết quả nghiên cứu và đóng góp chuyên môn cụ thể:
- Kết quả dữ liệu: Cung cấp bức tranh toàn diện về cơ cấu xét xử tại TAND thành phố Vinh với số lượng trung bình 400 vụ việc/năm (trong đó án hôn nhân gia đình chiếm 66,25%, hình sự chiếm 17,5%, dân sự chiếm 10%). Tác giả phân tích chi tiết các số liệu bồi thường cụ thể qua 6 bản án sơ thẩm thực tế từ năm 2018 đến 2021, đối chiếu rõ ràng giữa khoản tiền đương sự yêu cầu và khoản tiền Tòa án tuyên chấp nhận.
- Đề xuất giải pháp: Đưa ra các kiến nghị thực tế về việc ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng BLDS 2015 thay thế Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, chuẩn hóa bảng biểu tính toán thu nhập mất đi và tổn thất tinh thần, đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác phối hợp giám định pháp y.
- Đóng góp học thuật: Đề tài đã hệ thống hóa lý luận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm dưới góc độ kết hợp giữa luật nội dung và thực tiễn tố tụng cấp quận/huyện, cung cấp tư liệu tham khảo thực chứng có giá trị cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người nghiên cứu pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận nêu rõ một số giới hạn nghiên cứu:
- Dữ liệu án lệ và hồ sơ xét xử tập trung chủ yếu tại địa bàn một đơn vị hành chính cấp huyện (thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) trong khung thời gian từ 2015 đến 2021.
- Chưa có điều kiện mở rộng khảo sát so sánh thực tiễn xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện ở vùng đồng bằng, đô thị với các khu vực miền núi lân cận.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát ở quy mô cấp tỉnh hoặc liên tỉnh, đồng thời theo dõi thực tiễn thi hành án dân sự sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt là các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư tham gia giải quyết các vụ án hình sự có yêu cầu bồi thường dân sự hoặc các vụ kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với phương pháp bóc tách chi tiết từng khoản mục chi phí thực tế (tiền thuốc, tiền xe, ngày công chăm sóc, mức tổn thất tinh thần) trong các bản án sơ thẩm cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Tòa án nhân dân thành phố Vinh xác định mức bồi thường tổn thất tinh thần trong các vụ án cố ý gây thương tích như thế nào?
Tòa án căn cứ vào Điều 590 BLDS 2015 (mức trần không quá 50 lần mức lương cơ sở) kết hợp hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP. Tòa xem xét mức độ thương tật, tính chất hành vi và hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ: Tại Bản án 09/2020/HSST, bị hại thương tích 12% đòi 30 tháng lương cơ sở (44,7 triệu đồng) nhưng Tòa chỉ chấp nhận 5 tháng lương cơ sở (7,45 triệu đồng); tại Bản án 43/2021/HSST (thương tật 5%), Tòa chấp nhận mức bù đắp tinh thần là 2.000.000 đồng.
2. Tiêu chí nào được Tòa án áp dụng để tính toán thu nhập thực tế bị mất của người bị hại và người chăm sóc?
Nếu người bị hại không chứng minh được mức lương cố định, Tòa án áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động phổ thông cùng loại trên địa bàn (thường áp dụng mức 200.000 đồng/ngày nhân với số ngày điều trị thực tế). Tiền công của người chăm sóc cũng được tính toán dựa trên số ngày chăm sóc tại bệnh viện nhân với mức ngày công lao động phổ thông (180.000 – 200.000 đồng/ngày).
3. Phương thức bồi thường nào được TAND thành phố Vinh áp dụng phổ biến nhất?
Qua thực tiễn xét xử các vụ việc xâm hại sức khỏe tại TAND thành phố Vinh, phương thức được áp dụng chủ yếu là bồi thường bằng tiền và thanh toán một lần. Các hình thức bồi thường bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc hầu như không phát sinh do đương sự không yêu cầu.
4. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân chủ quan nào khiến một số vụ án xâm hại sức khỏe bị kéo dài thời hạn xét xử?
Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự thiếu hụt biên chế Thẩm phán do tinh giản biên chế; tâm lý một số Thẩm phán ưu tiên giải quyết các vụ án đơn giản trước để đảm bảo chỉ tiêu thi đua, e ngại án phức tạp bị hủy sửa ảnh hưởng đến việc tái bổ nhiệm; cùng với kỹ năng đánh giá chứng cứ và phối hợp liên ngành trong công tác giám định còn hạn chế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Phương Thanh đã làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi về chế định bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Thông qua việc phân tích thực chứng các số liệu xét xử và bản án cụ thể tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh giai đoạn 2015–2021, công trình chỉ rõ những bất cập giữa quy định lý thuyết và quá trình áp dụng luật tại cơ sở. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất trong khóa luận góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người, nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người bị thiệt hại.