CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM 1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Pháp luật về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được xem là một trong những vấn đề nổi bật hiện nay. Đây là thiệt hại khó quy định chi tiết, toàn diện, do nặng về giá trị tinh thần, khó cân đo, đong đếm.2 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 hiện chưa có điều luật quy định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín,3 mà cũng không có khái niệm về nội hàm pháp lý của thuật ngữ “bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” (chế tài áp dụng cho sự xâm phạm). Trong khi đó tại Điều 34 và Điều 592 BLDS năm 2015 lại có điều chỉnh về “quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín” (đối tượng pháp luật bảo vệ) và “thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” (hệ quả của sự xâm phạm).
Vậy vấn đề đặt ra là “bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” là gì? Chế tài này được áp dụng trong các sự kiện pháp lý nào? Để trả lời cho vấn đề này, tác giả tìm hiểu từng phạm vi khái niệm của các từ ngữ có liên quan, sau đó tổng hợp chúng thành nội hàm của cụm từ “bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” mà pháp luật dân sự hiện hành còn đang bỏ ngỏ. 2 Kim Thị Tuyết (tháng 10/2021), “Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Công thương, số 23 – tháng 10/2021, tr. 3 Phạm Kim Anh (2001), “Về quy định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm trong Bộ luật Dân sự Việt Nam và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 03/2001, tr. Khái niệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 1.
Các khái niệm về danh dự, nhân phẩm, uy tín “Danh dự”, “nhân phẩm” là những thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa thế nào là danh dự, thế nào là nhân phẩm. 4 Điều 592 BLDS năm 2015 có đề cập đến thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế.
Do đó, cần xác định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín.5 Thứ nhất, thuật ngữ pháp lý về “danh dự”. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “danh dự” là “sự coi trọng, đánh giá tốt đẹp”.6 Theo Từ điển Luật học thì “danh dự” là “sự coi trọng của xã hội về con người hoặc tổ chức nào đó và được thừa nhận như quyền nhân thân”.7 Trong khoa học pháp lý, các học giả đồng tình rằng danh dự là sự coi trọng, đánh giá cao của xã hội đối với một người dựa trên các giá trị tinh thần, đạo đức,8 phẩm chất chính trị và năng lực của người đó.9 Sự đánh giá của xã hội có thể về mặt lao động như nói người cần cù, siêng năng hay lười nhác, có thể về mặt tinh thần thái độ đối với công việc được giao, trong sinh hoạt cá nhân hay cư xử với mọi người xung quanh như người đó sống nghiêm túc hay buông thả, trong quan hệ 4 Cao Vũ Minh (2020), “Thống nhất chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “xúc phạm danh dự, nhân phẩm” trong các nghị định của Chính phủ”. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01/2020, tr. 5 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr.
6 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2013), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 7 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2013), Từ điển Luật học, Nxb.
Từ điển Bách khoa và Nxb. 8 Cao Vũ Minh (2020), tlđd, tr. 9 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 11 với mọi người thì thân ái đoàn kết hay ích kỷ.10 Danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa.11 Danh dự là một khái niệm rộng gắn liền với một cá nhân hoặc một tổ chức nhất định.
Danh dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau: Lòng tự trọng, tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí của mình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của người khác chính là xúc phạm đến danh dự của người đó); Uy tín, chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo. Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự.12 Danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và sự tín nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ chức đó.13 Danh dự còn có thể được hiểu là sự coi trọng, đánh giá của dư luận xã hội đối với một người dựa trên các giá trị đạo đức, năng lực của người đó, được hình thành thông qua quá trình sống của con người, từ những hành động, cư xử, cống hiến của người đó đối với xã hội.14 Thứ hai, thuật ngữ pháp lý về “nhân phẩm”, Theo Đại từ điển tiếng Việt “nhân phẩm” (nhân: người, phẩm: phẩm giá, phẩm chất) là “phẩm chất và giá trị của con người”15. Theo Từ điển Luật học “nhân phẩm” là “phẩm chất, giá trị của một con người cụ thể và được pháp luật bảo vệ”.16 Như vậy có 02 thành tố cấu thành nên nhân 10 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 11 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr.
12 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 13 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 14 Kim Thị Tuyết (tháng 10/2021), tlđd, tr. 15 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2013), tlđd, tr.
16 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2013), tlđd, tr. 12 phẩm của con người là phẩm chất con người (tổng hòa các đặc điểm sinh học), và phẩm hạnh của người đi (là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người). Nhân phẩm được hiểu là toàn bộ phẩm chất con người, là giá trị làm người của mỗi con người, mang nặng yếu tố tinh thần, hình thành gắn liền với con người khi được sinh ra.17 Theo một quan điểm khác thì việc chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đến danh dự người đó (ngoài ra có thể hiểu danh dự bao gồm cả nhân phẩm).18 Do đó, cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là một yếu tố của danh dự, song giữa danh dự và nhân phẩm cũng có những điểm khác nhau nhất định: (1) Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa thì nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra; (2) Danh dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với cá nhân; (3) Mặc dù danh dự của một con người được hình thành từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và thành tích của người đó có được qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mọi người dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm như nhau không phân biệt vào công lao, công tác và những đặc điểm riêng của người có quyền; những người không có năng lực hành vi dân sự, những người mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác. 19 Xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm thường thể hiện bằng cách: Dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính chất thóa mạ khinh bỉ để làm nhục người khác hoặc gán một sự kiện xấu xa cho người khác làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về người đó.
Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những tin 17 Kim Thị Tuyết (tháng 10/2021), tlđd, tr. 18 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 19 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 13 tức đó vô tình hay cố ý.20 Tiêu chuẩn để đánh giá những sự việc nêu ra là xấu xa hay không xấu xa là những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa.
21 Một quan điểm khác cũng cho rằng danh dự và nhân phẩm là hai phạm trù đạo đức học khác nhau nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu như nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi cá nhân thì danh dự chính là kết quả của quá trình xây dựng và bảo vệ nhân phẩm của cá nhân đó.22 Qua đó quan điểm này khái quát rằng “danh dự, nhân phẩm là những phạm trù mang tính xã hội, luôn gắn với một cá nhân nhất định, là một trong những yếu tố để xác định vai trò, vị trí, phẩm chất, giá trị của một con người, được xã hội đánh giá, thừa nhận và được pháp luật bảo vệ”.23 Thứ ba, thuật ngữ pháp lý về “uy tín”. Xét dưới khía cạnh khái niệm thì từ điển Tiếng Việt thì “uy tín” là sự tín nhiệm, tin yêu, mến phục của mọi người. 24 Có quan điểm cho rằng, uy tín là giá trị đạo đức, tài năng của một người được xã hội đánh giá cao thông qua thực tiễn, thường được người khác tôn kính và nghe theo.25 Xét mối quan hệ giữa uy tín và danh dự thì trước đây, một quan điểm đã từng đề xuất rằng việc bảo hộ của pháp luật cần được xác định là “sự không thể xâm phạm về tinh thần của một người dựa trên hai yếu tố: yếu tố chủ quan là danh dự và yếu tố khách quan là uy tín”.26 Nhưng quan điểm này đã từng không được chấp nhận vì có nhiều 20 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, ; tr.
21 Phạm Kim Anh (2001), tlđd, tr. 22 Cao Vũ Minh (2020), tlđd, tr. 23 Cao Vũ Minh (2020), tlđd, tr. 24 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2013), tlđd, tr.
25 Kim Thị Tuyết (tháng 10/2021), tlđd, tr.