CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI HOÀN CHI PHÍ ĐÀO TẠO TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động 1. Khái niệm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động Bồi hoàn là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong thực tiễn đời sống xã hội.
Trước hết, theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam thì bồi hoàn là: “trả lại những thứ đã lấy đi hoặc đã làm thiệt hại cho người ta”3. Với định nghĩa này, bồi hoàn được xem là một thuật ngữ có nghĩa gần như tương đồng với bồi thường: “trả lại cho người khác cái có giá trị (thường bằng tiền) tương xứng với thiệt hại mà mình gây ra”4. Trong Khoa học pháp lý, bồi hoàn được hiểu là “Việc cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc hành vi gây thiệt hại phải trả số tiền theo quy định của pháp luật để nộp phạt hoặc bồi thường thiệt hại”5. Theo Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 không tồn tại chế định về bồi hoàn, mà thay vào đó là thuật ngữ bồi thường thiệt hại mang nghĩa tương đương như bồi hoàn, cụ thể Khoản 1 Điều 604: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Xét về ngữ nghĩa, bồi thường chỉ đơn thuần thể hiện việc một chủ thể khi có hành vi gây ra thiệt hại thì phải trả lại những lợi ích tương xứng cho bên bị vi phạm. Trong khi đó, bồi hoàn (hay còn gọi là reimburse) thể hiện việc trả lại lợi ích tương xứng cho người khác không chỉ nhằm mục đích bồi thường thiệt hại mà trong một vài trường hợp nhất định thì việc trả lại đó còn được xem là khoản phạt, hoàn trả cho chi phí hoặc tổn thất phát sinh6. Về nguyên tắc, khi một cá nhân, tổ chức có năng lực hành vi dân sự nếu gây thiệt hại cho chủ thể khác không phải vì lý do bất khả kháng thì phải có nghĩa vụ khắc phục hậu quả gây ra. Nghĩa vụ này nhằm loại bỏ sự tuyệt đối hóa quyền tự do 3 Nguyễn Lân(2000), Từ Điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb.Hồ Chí Minh, tr.
4 Tài liệu đã dẫn 3, tr. 5 (1999), Từ điển Luật học, Nxb. Bách Khoa, tr.58 6 Theo http://dictionary.com/browse/reimburse/ (truy cập 05/4/2014). Ở một số nước đặc biệt là các nước theo hệ thống luật án lệ, quan niệm pháp lý về trách nhiệm bồi hoàn không đơn thuần mang tính khắc phục thiệt hại mà còn mang tính trừng phạt.
10 cá nhân, đồng thời xác lập trách nhiệm của một chủ thể đối với hành vi của chính mình trước quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác trong xã hội. Với một hợp đồng thông thường, phương thức đơn giản nhất để chấm dứt nghĩa vụ hợp đồng là thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng7. HĐLĐ không là trường hợp ngoại lệ, nếu như sau khi giao kết hợp đồng, các bên thiết lập quyền, nghĩa vụ để ràng buộc lẫn nhau và đem lại lợi ích cho cả hai bên cùng mong muốn, thì chấm dứt HĐLĐ lại là sự kiện pháp lý cuối cùng để các bên đi đến chấm dứt quan hệ lao động bằng chính hợp đồng đã cùng thiết lập8. Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng, rất có thể NLĐ vì ý thức chấp hành chưa cao hoặc vì khó khăn kinh tế mà họ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật gây thiệt hại cho NSDLĐ.
Khi đó, pháp luật trao cho NSDLĐ quyền được yêu cầu NLĐ chịu phạt do vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng… đặc biệt là bồi hoàn chi phí đào tạo trong trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ, vi phạm thời gian cam kết làm việc cho doanh nghiệp sau khi tham gia bồi dưỡng, đào tạo nâng cao tay nghề. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể nào về “bồi hoàn chi phí đào tạo”. Thiết nghĩ, đây là một chế định cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong mối tương quan với quyền và lợi ích chính đáng của NSDLĐ. Bởi vốn dĩ Luật Lao động nước ta ban hành trước tiên là bảo vệ NLĐ, song cũng không nên quy định quá nhiều quyền lợi cho NLĐ và đặt quá nhiều trách nhiệm cho NSDLĐ9.
Như vậy, theo tác giả, có thể hiểu: “Bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quan hệ lao động, quy định nghĩa vụ của NLĐ phải hoàn trả những lợi ích vật chất nhất định cho NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, vi phạm thỏa thuận về thời gian cam kết làm việc cho NSDLĐ (được quy định tại phụ lục hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề, hợp đồng đào tạo…) đã được ký kết trước đó gây ra thiệt hại về vật chất cho NSDLĐ”. Với cách tiếp cận này, cơ chế bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động cần được xem xét dưới nhiều góc độ để từ đó có thể đánh giá sâu sắc, toàn 7 Nguyễn Ngọc Đào(1994), Luật La Mã, Khoa Luật Đại học Tổng hợp, tr. 8 Nguyễn Thị Hoa Tâm(2012), “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (02), tr. 9 Trần Hoàng Hải, Nguyễn Thị Hoa Tâm(2012), “Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định về chấm dứt hợp đồng lao động”, Tạp chí Khoa học pháp lý (02), tr.
11 diện những giới hạn đặt ra với NLĐ trong việc làm thế nào để thực hiện đúng, đầy đủ cam kết cũng như việc điều chỉnh của pháp luật đối với chế định này. Vấn đề này sẽ được tiếp tục làm rõ ở phần sau. Đặc điểm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động Là một loại trách nhiệm pháp lý nên bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động mang đầy đủ đặc điểm của một trách nhiệm pháp lý như: loại trách nhiệm được quy định trong pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc chủ thể phải chịu những thiệt hại nhất định về tài sản… , được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước. Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo còn mang những đặc điểm riêng sau: Về cơ sở pháp lý: Với quy định của pháp luật lao động hiện hành, việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ thông qua chế định bồi hoàn chi phí đào tạo được thực hiện dựa theo cơ sở pháp lý nhất định, cụ thể: Thứ nhất, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là một loại trách nhiệm phát sinh trong quan hệ lao động.
Điều kiện đặt ra là quan hệ lao động phải được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thiện chí của các chủ thể. Theo đó, NLĐ cần có việc làm nên đã đem tài sản duy nhất của mình là sức lao động để thương lượng với doanh nghiệp nắm trong tay tư liệu sản xuất có quyền tuyển dụng, quản lý10. Thứ hai, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động là trách nhiệm pháp lý được ghi nhận trong pháp luật lao động. Theo Điều 1 Bộ luật Lao động năm 2012, phạm vi điều chỉnh của BLLĐ là: “tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động”.
Quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động được xác định là những quan hệ phái sinh từ quan hệ lao động, bao gồm: Quan hệ học nghề và việc làm, quan hệ về bồi thường thiệt hại, quan hệ về bảo hiểm xã hội, quan hệ giữa 10 Nguyễn Thị Thúy Nga(2007), “Nguyên tắc thiện ý trong thương lượng giao kết hợp đồng lao động”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số (02), tr. 12 NSDLĐ và đại diện của tập thể lao động, quan hệ về giải quyết tranh chấp về lao động và đình công, quan hệ về quản lý lao động. Có thể nói, bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động phát sinh từ quan hệ học nghề và dạy nghề được quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh. Theo Điều 64 BLLĐ 2012 quy định:“Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc ở nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả chi phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Khi đó hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành hai bản, trong đó buộc phải có nội dung về chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo”. Tóm lại, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo trong lĩnh vực lao động thể hiện rõ bản chất của một loại trách nhiệm trong hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động. Về hậu quả Thứ nhất, trách nhiệm bồi hoàn chi phí đào tạo là luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại – NLĐ. Trách nhiệm này luôn mang tính tài sản, tức là liên quan trực tiếp đến tài sản.
Hậu quả của việc thực hiện không đúng nghĩa vụ của NLĐ trong quan hệ lao động đã gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định. Ở đây, lợi ích mong đợi hợp pháp từ NSDLĐ không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện một phần hoặc toàn bộ do có hành vi vi phạm từ phía NLĐ11. Do đó, doanh nghiệp khó có thể hoàn thành tốt quy trình tiếp nhận yếu tố đầu vào và giải quyết đầu ra cho hoạt động kinh doanh. Thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và chế tài này được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế Nhà nước.