phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về điều kiện lao động và cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng điều kiện lao động và cải thiện điều kiện lao động của công nhân làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Công ty Môi trƣờng đô thị Hà Nội - Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện điều kiện lao động của công nhân làm công việc nặng nhọc, độc hai, nguy hiểm tại Công ty Môi trƣờng đô thị Hà Nội. 11 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG VÀ CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP” 1. Điều kiện lao động 1.
Khái niệm về điều kiện lao động Khái niệm ĐKLĐ đã đƣợc đề cập trong các giáo trình và công trình khoa học với các cách diễn giải khác nhau. Trong giáo trình tổ chức lao động khoa học trong xí nghiệp (Nhà xuất bản Giáo dục năm 1994) có nêu: “ĐKLĐ là tổng hợp các nhân tố của môi trƣờng sản xuất có ảnh hƣởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của ngƣời lao động”.[15] Theo báo cáo tổng hợp phƣơng pháp xác định nghề nặng nhọc độc hại, nguy hiểm của Cục ATLĐ- Bộ LĐTB&XH: “ĐKLĐ là toàn bộ các yếu tố có tại nơi làm việc và cả ngoài nơi làm việc tác động đến ngƣời lao động, làm biến đổi trạng thái chức năng tâm- sinh lý của cơ thể ngƣời lao động trong quá trình làm việc”. Các yếu tố ĐKLĐ bao gồm: các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, tâm sinh lý lao động, thẩm mỹ sản xuất, tâm lý xã hội đƣợc gây ra bởi các nguyên nhân công nghệ, máy móc- thiết bị, nguyên- nhiên liệu- năng lƣợng, nhà xƣởng, tổ chức lao động, điều kiện tự nhiên- khí hậu, hoàn cảnh kinh tế- xã hội. [7] Sách Điều kiện lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 1996) có nêu: “ĐKLĐ tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trƣờng lao động (các yếu tố vệ sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ) có tác động lên trạng thái chức năng của cơ thể con ngƣời, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng nhƣ về lâu dài”[18] Nhƣ vậy có thể định nghĩa ĐKLĐ: ĐKLĐ là toàn bộ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tổ chức lao động, môi trường và văn hoá xung quanh nơi làm việc được hình thành do tính chất, đặc điểm của công cụ lao động, đối tượng lao động và môi trường lao động trong không gian nơi làm việc có tác động đến người lao động, làm biến đổi trạng thái chức năng tâm- sinh lý của cơ thể người lao động, khả năng làm việc, sức khỏe, quá 12 trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về lâu dài.
Khi đánh giá ĐKLĐ chúng ta phải phân tích các yếu tố biểu hiện của ĐKLĐ xem nó có ảnh hƣởng và tác động nhƣ thế nào đối với ngƣời lao động. Nghĩa là phải phân tích xem xét cụ thể công cụ, phƣơng tiện lao động có thuận lợi hay khó khăn, an toàn hay gây nguy hiểm nhƣ thế nào cho ngƣời lao động, quá trình công nghệ hiện đại hay thô sơ, môi trƣờng lao động có đảm bảo yêu cầu theo tiêu chuẩn về môi trƣờng hay không. ĐKLĐ có thể đƣợc chia ra làm 2 loại: ĐKLĐ thuận lợi và ĐKLĐ không thuận lợi. ĐKLĐ tại một nơi làm việc đƣợc coi là thuận lợi khi tác động tổng hợp các yếu tố cấu thành của chúng lên trạng thái chức năng cơ thể con ngƣời không những không ảnh hƣởng xấu đến trạng thái bình thƣờng của cơ thể ngƣời lao động, mà ngƣợc lại, chúng góp phần duy trì khả năng làm việc và sức khỏe của họ.
ĐKLĐ tại một nơi làm việc đƣợc coi là không thuận lợi khi tác động tổng hợp các yếu tố cấu thành của chúng làm phát sinh sự biến đổi không mong muốn trạng thái chức năng cơ thể con ngƣời, làm giảm khả năng làm việc, giảm năng suất lao động, có hại cho sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ.2 Các yếu tố của ĐKLĐ Qua nghiên cứu, phân tích ảnh hƣởng của các yếu tố điều kiện lao động đến ngƣời lao động và nguồn gốc hình thành chúng, các nhà khoa học đã phân các yếu tố của ĐKLĐ thành 5 nhóm là: 1.1 Yếu tố tâm sinh lý lao động Hình thành trong quá trình lao động có ảnh hƣởng đến trạng thái tâm sinh lý của ngƣời lao động. Bao gồm: sự căng thẳng về thể lực, thần kinh, nhịp độ lao động, trạng thái và tƣ thế lao động, tính đơn điệu của lao động không phù hợp với hoạt động tâm sinh lý bình thƣờng và nhân trắc của cơ thể ngƣời lao động trong lao động… 13 1.2 Yếu tố vệ sinh phòng bệnh Nhóm yếu tố vệ sinh phòng bệnh là các yếu tố tồn tại trong môi trƣờng không khí của nơi làm việc xuất phát từ yếu tố công nghệ, đặc điểm khí hậu, điều kiện tự nhiên của vùng miền, tính chất của đối tƣợng lao động, cách thức tổ chức và phục vụ nơi làm việc, ảnh hƣởng tới chức năng sinh lý của cơ thể. Khi điều kiện làm việc của môi trƣờng vƣợt quá giới hạn sinh lý, con ngƣời bị mệt mỏi, sức khoẻ giảm sút, năng suất lao động giảm xuống. Các yếu tố môi trƣờng lao động: vi khí hậu, tiếng ồn và rung động, bức xạ và phóng xạ, chiếu sáng không hợp lý, bụi, các hoá chất độc, các yếu tố vi sinh vật có hại… 1.3 Yếu tố thẩm mỹ trong lao động Nhóm yếu tố thẩm mỹ của lao động không tác động trực tiếp đến sức khỏe nhƣng có tác dụng cải thiện trạng thái tâm sinh lý của ngƣời lao động, tạo sự hƣng phấn, dễ chịu trong quá trình làm việc, giảm stress.
Nhóm này gồm các yếu tố: sắp xếp, bố trí nơi làm việc, sự phù hợp của trang thiết bị với yêu cầu của thẩm mỹ, màu sắc, kiểu dáng, cây xanh, âm nhạc chức năng, trang trí, cảnh quan môi trƣờng 1.4 Yếu tố tâm lý xã hội Nhóm yếu tố tâm lý xã hội là các yếu tố tồn tại trong môi trƣờng giao tiếp giữa những ngƣời cùng làm việc với nhau có tác động thúc đẩy hoặc hạn chế khả năng làm việc của ngƣời lao động. Nhóm này gồm: thi đua khen thƣởng, phát huy sáng kiến, cơ hội thể hiện quan điểm, thái độ của ngƣời lao động, mối quan hệ với đồng nghiệp, bầu không khí tâm lý trong tập thể, tác phong của ngƣời lãnh đạo.5 Yếu tố về chế độ làm việc và nghỉ ngơi Quy định về độ dài thời gian làm việc, nghỉ ngơi của ngƣời lao động, hình thức nghỉ, sự luân phiên giữa làm việc và nghỉ giải lao. Tùy theo tính chất của từng công việc cần có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý góp phần bảo đảm sức khỏe cho ngƣời lao động cũng nhƣ đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động. Các phương pháp đánh giá về điều kiện lao động 1.1 Phƣơng pháp khảo sát Phƣơng pháp khảo sát là phƣơng pháp dùng phƣơng tiện kỹ thuật đo lƣờng để ghi chép, theo dõi về hiện trạng các yếu tố ĐKLĐ, tƣơng ứng với nó là ghi chép lại ảnh hƣởng của những yếu tố đó đến ngƣời lao động trong quá trình làm việc.
Phƣơng pháp này cho phép đánh giá chính xác về ĐKLĐ và các nguyên nhân gây ra mức độ ảnh hƣởng của điều kiện lao động đến ngƣời lao động gọi là mức độ nặng nhọc của điều kiện lao động.2 Phƣơng pháp thống kê Để đánh giá ĐKLĐ có thể căn cứ vào báo cáo định kỳ về TNLĐ, BNN, sức khỏe của ngƣời lao động. Theo điều 142 Bộ Luật lao động năm 2012: “TNLĐ là tai nạn xảy ra do tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho ngƣời lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”[1]. TNLĐ đƣợc chia làm 3 loại: TNLĐ chết ngƣời, TNLĐ nặng, TNLĐ nhẹ. Để đánh giá tình hình TNLĐ ngƣời ta sử dụng Hệ số tần xuất TNLĐ K (số tai nạn lao động tính trên 1000 ngƣời trong khoảng thời gian quy định).1000 K N Trong đó: n: số tai nạn lao động N: tổng số ngƣời lao động.
K: hệ số tần suất lao động chết ngƣời tính cho một đơn vị, một địa phƣơng, một ngành. - Bệnh nghề nghiệp 15 Tƣơng tự nhƣ tai nạn lao động, để phản ánh tình hình mắc BNN, ngƣời ta cũng dùng tần suất mắc bệnh nghề nghiệp KBNN (Số ngƣời mắc bệnh nghề nghiệp tính trên 1000 ngƣời trong khoảng thời gian quy định): m.1000 K BNN M Trong đó: m: số ngƣời mắc BNN trong doanh nghiệp M: tổng số lao động trong doanh nghiệp trong thời điểm thống kê Hiện nay ở Việt Nam đã có 30 bệnh đƣợc công nhận là BNN đƣợc hƣởng chế độ bảo hiểm.3 Phƣơng pháp điều tra xã hội học Đánh giá ĐKLĐ thông qua điều tra xã hội học. Ngƣời nghiên cứu thiết kế bảng hỏi để ngƣời lao động đánh giá về ĐKLĐ. Ý kiến đánh giá của ngƣời lao động là nguồn thông tin phản hồi có vai trò rất quan trọng đối với quá trình ra quyết định của ngƣời lãnh đạo.
Phƣơng pháp này cho thông tin trực tiếp, phản ánh kịp thời về cảm nhận của ngƣời lao động về ĐKLĐ.Tầm quan trọng của cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp Mục đích của cải thiện ĐKLĐ là tạo môi trƣờng lao động an toàn cho ngƣời lao động trong quá trình sản xuất, giúp ngăn ngừa TNLĐ, BNN, hạn chế ốm đau và những thiệt hại khác cho ngƣời lao động góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng của ngƣời lao động đồng thời góp phần tăng năng suất lao động giúp doanh nghiệp phát triển bền vững. Khi ĐKLĐ tốt sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe của ngƣời lao động. Làm việc trong ĐKLĐ tốt sẽ giúp ngƣời lao động luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của công việc, giảm đƣợc thời gian ngừng việc, nghỉ việc do bị TNLĐ hoặc mắc BNN hoặc bị chấn thƣơng giúp doanh nghiệp giảm đƣợc chi phí sản xuất. Ngƣợc lại, khi ĐKLĐ xấu sẽ ảnh hƣởng đến sức khỏe, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu 16 quả lao động, có thể khiến ngƣời lao động gây ra sự cố tai nạn làm hỏng máy móc thiết bị, sản phẩm…khiến cho sản xuất bị gián đoạn gây thiệt hại cho doanh nghiệp.