Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Quản lý có một vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá đến mọi hoạt động của đời sống xã hội. Ngay từ thời xa xưa, để chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và để duy trì sự tồn tại của mình, con người đã phải kết thành từng nhóm, cũng từ đây trong quá trình lao động đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động tức là cần có sự quản lý.
Quản lý nhằm hiệp lực tạo một môi trường thuận lợi, một thuộc tính mới, đạt được mục tiêu của nhóm, của tập thể.Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung chừng nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ CSVC, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [3]. Tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” (NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 1994) của ba tác giả: Harold Koontz, Cyril o’donnell và Heinz Weihrich được coi như là cẩm nang của các nhà quản lý, đề cập sâu sắc, toàn diện về các kỹ năng quản lý, các yêu cầu của chất lượng quản lý và hệ thống khoa học quản lý [11]. Xét ở góc độ lý luận giáo dục học, có rất nhiều tác giả đã đề cập tới lực lượng giáo dục, trong đó nêu rõ vai trò, vị trí, chức năng của CBQL trường học.
Tiêu biểu là công trình của tác giả T. Ilina với tác phẩm “Giáo dục học” [28]; N. Savin với tác phẩm “Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà trường” [20]. Tác phẩm “Quản trị hiệu quả trường học” của ba tác giả B.Everad, Geofrey Morris và Ian Wilson (NXB Giáo dục, năm 2009) với nội dung mạng tính thực tiễn cao trên cơ sở lý luận về quản lý hiện đại mà chính các tác giả là người trực 6 tiếp thực hành viết ra cho những người thực hành, đây là cuốn sách thật sự có ý nghĩa, thiết thực cho cán bộ CBQL trường học và các cơ sở giáo dục khác [1].
Năm 1991, UNESCO xuất bản cuốn “Quản lý hành chính và sư phạm” [34] của Jean Valérien nhằm giới thiệu các modul về vai trò, chức năng, trách nhiệm, yêu cầu chất lượng và nhiệm vụ của CBQL trường học. Tháng 12 năm 2000, đáp lại đề nghị của Bộ GD&ĐT Việt Nam, UNESCO đã biên soạn và tiến hành dịch ra Tiếng Việt cuốn “Lập kế hoạch giáo dục cho mọi người” [34]. Đây là một công cụ hữu ích giúp các nhà quản lý giáo dục có kiến thức kỹ năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá kế hoạch giáo dục một cách khoa học. Năm 1989, Bộ giáo dục Mỹ đã đưa ra 10 kỹ năng quản lý mà tổ trưởng chuyên môn cần phải có: 1) Khả năng giải quyết vấn đề; 2) Các kỹ năng về nghề nghiệp - kỹ thuật; 3) Khả năng giao tiếp; 4) Sử dụng máy vi tính và lập trình; 5) Khả năng sư phạm; 6) Khả năng về khoa học và toán học; 7) Quản lý tiền bạc; 8) Quản lý thông tin; 9) Ngoại ngữ; 10) Quản trị kinh doanh [36].
Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học Úc (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng Giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã đưa ra các kỹ năng quản lý cho người quản lý trường học nói chung và TTCM nói riêng được xác định gồm có 8 kỹ năng: 1) Kỹ năng giao tiếp (Communication skills); 2) Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills); 3) Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills); 4)Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills); 5) Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills); 6) Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills); 7) Kỹ năng học tập (Learning skills); 8) Kỹ năng công nghệ (Technological skills) [37]. Tại Canada, Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) đã xây dựng 6 kỹ năng quản lý cho TTCM, gồm: 1) Kỹ năng giao tiếp (Communication); 2) Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving); 3) Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive 7 attitudes and behaviours); 4) Kỹ năng thích ứng (Adaptability); 5) Kỹ năng làm việc với con người (Working with others); 6) Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills) [38]. Tại Anh, Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được Chính phủ thành lập từ ngày 28/6/2007 đưa ra danh sách 6 kỹ năng quản lý quan trọng cho trưởng bộ môn bao gồm: 1) Kỹ năng tính toán (Application of number); 2) Kỹ năng giao tiếp (Communication); 3) Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance); 4) Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology); 5) Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving); 6) Kỹ năng làm việc với con người (Working with others) [39]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy, việc bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho TTCM đã được quan tâm, chú ý.
Bồi dưỡng kỹ năng quản lý cho TTCM được đặt ra như một nội dung quan trọng nhằm phát triển nền giáo dục. Những nghiên cứu trên chủ yếu hướng đến việc bồi dưỡng để TTCM có được những kỹ năng quản lý, nhằm thích ứng với môi trường một cách nhanh chóng và hiệu quả. Nghiên cứu tại Việt Nam Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ đã rất quan tâm đến phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo Việt Nam. Trong tác phẩm: “Sửa đổi lề lối làm việc - về vấn đề cán bộ” [27], Bác đã đề cập một cách toàn diện đến vấn đề quan điểm, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nói chung.
Trong "Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020" ban hành theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ [4], đã chú trọng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD ở các cấp học, bậc học. Ban Bí thư trung ương đã có Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Nghị quyết Đại hội XI, Hội nghị lần thứ tám (khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo. 8 Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý, quản lý GD, quản lý nhà trường như Phan Văn Kha nghiên cứu về “Phương pháp nghiên cứu khoa học GD” [14].
Nguyễn Lộc nghiên cứu “Cơ sở lý luận quản lý trong tổ chức GD” [19]. Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu về “Những khái niệm cơ bản về quản lý GD” [25]. Phạm Minh Hạc nghiên cứu về “Một số vấn đề về GD và khoa học GD” [9]. Trần Kiểm nghiên cứu về “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý GD” [18].
Phạm Hồng Quang nghiên cứu về “Phương pháp nghiên cứu khoa học GD” [26]. Nguyễn Thị Tính nghiên cứu về “Quản lý chuyên môn trong nhà trường” [31]. Vũ Ngọc Hải nghiên cứu về “Quản lý nhà nước hệ thống GD Việt Nam trong đổi mới căn bản, toàn diện và hội nhập quốc tế” [10]. Trong tổng thể công tác quản lý giáo dục, quản lý nhà trường nói chung và quản lý THCS hiện nay nói riêng, bên cạnh quản lý dạy học thì quản lý công tác TTCM có tầm quan trọng đặc biệt để các nhà trường đảm bảo được mục tiêu giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng dạy và học hướng tới đào tạo, bồi dưỡng được thế hệ trẻ- nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước.
Trong những năm qua, đã có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ, nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, trong đó có nghiên cứu về đội ngũ TTCM như: - Luận văn “Biện pháp quản lý bồi dưỡng công tác tổ trưởng chuyên môn trường THCS tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Tiến Khải (2005). Đề tài đã xây dựng được cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng công tác TTCM trường THCS. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý việc bồi dưỡng công tác TTCM đối với các trường THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng TTCM, nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Tuy nhiên, các giải pháp được đề ra còn mang tính chung chung, chưa cụ thể vào các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng quản lý của TTCM, đây lại là một trong những biện pháp quan trọng để tăng cường hiệu quả quản lý của TTCM [15]. Luận văn “Biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường THCS huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà 9 (2010). Đề tài đã đưa ra một số vấn đề lý luận về hoạt động của tổ chuyên môn và quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THCS. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS huyện Vân Đồn, các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường này.
Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THCS huyện Vân Đồn. Tuy nhiên các biện pháp mới chỉ áp dụng với chủ thể quản lý là Hiệu trưởng các trường, chưa có giải pháp cụ thể cho đội ngũ TTCM [8]. Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng cho Hiệu trưởng trường tiểu học tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Hoàng Mạnh Tùng (2014). Tác giả đã xoay quanh việc phân tích, đánh giá kỹ năng quản lý của Hiệu trưởng các trường Tiểu học tại Lạng Sơn.
Tuy nhiên đề tài không đề cập đến hoạt động bồi dưỡng kỹ năng cho TTCM các trường [33]. Luận văn “Quản lý hoạt động chuyên môn ở các trường THCS quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu đổi mới giáo dục” của tác giả Trần Lê Lưu Phương (2009).