Quản lý Bồi Dưỡng Năng Lực Xây Dựng Mối Quan Hệ N-G-S Cho GV PTDTBT Xín Mần, Hà Giang

Khám phá luận văn thạc sĩ về quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ N-G-S cho giáo viên PTDTBT huyện Xín Mần, Hà Giang 2020.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. Giả thuyết nghiên cứu

1.6. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7. Phạm vi nghiên cứu

1.8. Phương pháp nghiên cứu

1.9. Cấu trúc luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.3. Năng lực, năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1.4. Quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1.5. Năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.6. Vị trí, vai trò của việc xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1.7. Nội dung năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.8. Quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.9. Tổ chức phổ biến về tiêu chuẩn xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.10. Tổ chức tự đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.11. Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.12. Tổ chức bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.13. Đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.14. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú

1.15. Yếu tố khách quan

1.16. Yếu tố chủ quan

1.17. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG

2.1. Khái quát huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.2. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế

2.3. Tình hình giáo dục và đào tạo

2.4. Giới thiệu về tổ chức khảo sát

2.5. Mục tiêu khảo sát

2.6. Đối tượng khảo sát

2.7. Phương pháp khảo sát

2.8. Xử lý kết quả khảo sát

2.9. Thực trạng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.10. Thực trạng nhận thức của giáo viên về mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

2.11. Thực trạng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.12. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho đội ngũ giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.13. Thực trạng tổ chức phổ biến về tiêu chuẩn xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên

2.14. Thực trạng tổ chức tự đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên

2.15. Thực trạng xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên trên cơ sở kết quả tự đánh giá

2.16. Thực trạng tổ chức bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên

2.17. Thực trạng đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên

2.18. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường các trường phổ thông dân tộc Bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.19. Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường PTDT Bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.20. Mặt hạn chế

2.21. Nguyên nhân hạn chế

2.22. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.2. Đảm bảo tính pháp lý

3.3. Đảm bảo tính khoa học

3.4. Đảm bảo tính đồng bộ

3.5. Đảm bảo tính thực tiễn

3.6. Đảm bảo tính khả thi

3.7. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển

3.8. Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên các trường PTDT Bán trú huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

3.9. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho đội ngũ giáo viên

3.10. Xây dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội phù hợp điều kiện của GV và nhà trường

3.11. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội

3.12. Xây dựng môi trường thuận lợi và tạo động lực để giáo viên phát triển năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

3.13. Định kỳ kiểm tra, đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của giáo viên

3.14. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.15. Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.16. Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm

3.17. Xử lý kết quả khảo nghiệm

3.18. Mức độ cần thiết của các biện pháp

3.19. Tính khả thi của của các biện pháp

3.20. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

3.1. Đối với UBND

3.2. Đối với Sở GD&ĐT; Phòng GD&ĐT

3.3. Đối với các trường PTDT bán trú huyện Xín Mần

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng dẫn Bồi dưỡng năng lực quan hệ N G Xã hội GV PTDTBT Xín Mần Tổng quan và Ý nghĩa

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, vai trò của nhà trường không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn phải biết cách hòa nhập, kết nối với gia đình và xã hội. Đặc biệt, tại các khu vực đặc thù như miền núi, vùng dân tộc thiểu số, việc bồi dưỡng năng lực quan hệ Nhà trường – Gia đình – Xã hội (N-G-Xã hội) cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) trở thành một yếu tố then chốt, quyết định chất lượng giáo dục. Năng lực quan hệ N-G-Xã hội giúp giáo viên hiểu rõ hơn về môi trường sống, văn hóa, tập quán của học sinh, từ đó xây dựng các phương pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả.

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”, với nguyên lý “giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (Luật Giáo dục 2005). Sự phối hợp này, nếu được thực hiện đồng bộ, sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục, ngược lại sẽ gây khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh. Vai trò của đội ngũ nhà giáo là vô cùng quan trọng, trực tiếp quyết định việc xây dựng mối quan hệ này. Chính vì vậy, bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho mỗi giáo viên được xem là khâu then chốt, động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển toàn diện của giáo dục. Việc quản lý bồi dưỡng năng lực này là một khâu đột phá, trọng tâm góp phần tạo nên thành công cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông.

Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT về ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông cũng đã xác định tiêu chuẩn 4: phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội là một tiêu chuẩn quan trọng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc quản lý và bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên nói chung và GV PTDTBT Xín Mần nói riêng. Việc nâng cao kỹ năng sư phạm không thể tách rời khỏi khả năng kết nối cộng đồng trường họcphối hợp giáo dục cộng đồng. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích tầm quan trọng, thực trạng và các biện pháp hiệu quả để bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội GV PTDTBT Xín Mần, hướng tới một nền giáo dục vùng cao chất lượng và bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của Quan hệ Nhà trường Gia đình Xã hội trong Giáo dục Toàn diện

Mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là một kiềng ba chân vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn." (Trích tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục tháng 6/1957). Điều này nhấn mạnh rằng, sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh không thể thiếu sự thống nhất và liên tục từ cả ba môi trường này.

Quan hệ nhà trường gia đình xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển cộng đồng. Gia đình là nơi hình thành nhân cách, là cầu nối học sinh với nhà trường và xã hội. Nhà trường cung cấp tri thức và rèn luyện phẩm chất. Cộng đồng xã hội tạo môi trường văn hóa, giáo dục. Sự phối hợp chặt chẽ này tạo nên một sức mạnh tổng hợp, đảm bảo sự thống nhất và liên tục trong quá trình giáo dục nhân cách cho học sinh, giúp các em được giáo dục mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt, đối với giáo viên phổ thông dân tộc bán trú, khả năng xây dựng và duy trì mối quan hệ này càng trở nên quan trọng để hỗ trợ học sinh dân tộc và vượt qua các rào cản văn hóa, ngôn ngữ.

1.2. Bối cảnh Đặc thù Thách thức và Cơ hội Giáo dục dân tộc thiểu số tại Xín Mần Hà Giang

Huyện Xín Mần, Hà Giang nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, với điều kiện địa lý phức tạp, thời tiết khắc nghiệt và là địa phương thuộc diện huyện nghèo (theo Nghị quyết 30a của Chính phủ). Đây là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với phong tục tập quán và văn hóa truyền thống đa dạng. Đặc thù này đặt ra nhiều thách thức cho công tác giáo dục, đặc biệt là đối với các trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT).

Trong bối cảnh đó, giáo viên PTDTBT Xín Mần không chỉ cần phát triển chuyên môn giáo viên mà còn phải có năng lực quan hệ N-G-Xã hội vượt trội. Họ cần hiểu sâu sắc văn hóa địa phương, kỹ năng giao tiếp sư phạm nhạy bén để tương tác phụ huynh học sinh hiệu quả, và khả năng phối hợp giáo dục cộng đồng để huy động nguồn lực xã hội. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng chính sự đa dạng văn hóa và tinh thần cộng đồng mạnh mẽ tại Xín Mần cũng mở ra cơ hội lớn để xây dựng một môi trường học tập thân thiện, nơi mà sự kết nối cộng đồng trường học có thể phát huy tối đa tiềm năng, góp phần vào sự phát triển bền vững giáo dục tại vùng cao.

II. Thực trạng và Thách thức Nâng cao Kỹ năng Sư phạm cho GV PTDTBT Xín Mần

Việc bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) Xín Mần đối mặt với nhiều thách thức xuất phát từ thực trạng năng lực hiện có và các yếu tố ảnh hưởng. Theo khảo sát được thực hiện bởi Nông Khánh Lịch (2020), nhận thức và năng lực của giáo viên về quan hệ nhà trường gia đình xã hội tại Xín Mần còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh. Đa số cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên nhận thức tương đối tốt về vị trí, vai trò của việc xây dựng mối quan hệ này, tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận chưa đầy đủ, thể hiện qua việc lựa chọn mức độ “ít quan trọng” hoặc “không quan trọng” đối với một số nội dung. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết cần nâng cao kỹ năng sư phạm và nhận thức về tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục cộng đồng.

Thực trạng cho thấy, nội dung “GV theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình học sinh kết quả học tập, rèn luyện của học sinh” được đánh giá là thực hiện thường xuyên nhất. Tuy nhiên, nội dung “GV huy động khả năng tiềm lực của gia đình, xã hội vào công tác giáo dục học sinh” lại ít được thực hiện. Điều này phản ánh sự thiếu chủ động của giáo viên trong việc mở rộng mối quan hệ ra ngoài khuôn khổ thông báo học tập cơ bản. Phụ huynh học sinh (PHHS) cũng thường ỷ lại vào nhà trường, thiếu sự tham gia tích cực. Ví dụ, anh N.M, một phụ huynh tại Xín Mần, cho biết: “Nhà trường có thông báo tình hình học tập của HS vào các buổi họp phụ huynh, bản thân tin tưởng vào sự giáo dục của nhà trường, khi cần thiết thì liên hệ với giáo viên chủ nhiệm” (Nông Khánh Lịch, 2020). Điều này cho thấy phụ huynh chưa nhận thức đầy đủ vai trò của mình trong việc xây dựng quan hệ N-G-Xã hội.

Những hạn chế này không chỉ xuất phát từ bản thân giáo viên mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Việc bồi dưỡng năng lực giáo viên cần phải xem xét toàn diện các khía cạnh này để đưa ra các giải pháp hiệu quả. Từ yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mới đến đặc thù của giáo dục dân tộc thiểu số tại Xín Mần, tất cả đều đặt ra những thách thức đáng kể trong việc quản lý bồi dưỡng năng lựcphát triển chuyên môn giáo viên, đặc biệt là trong việc kỹ năng giao tiếp sư phạmkỹ năng giải quyết mâu thuẫn với phụ huynh và cộng đồng. Việc khắc phục những hạn chế này sẽ là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục vùng caotrường PTDTBT Xín Mần.

2.1. Đánh giá Thực trạng Nhận thức và Năng lực Xây dựng Mối quan hệ của Giáo viên

Kết quả khảo sát từ luận văn của Nông Khánh Lịch (2020) chỉ ra rằng, đa số CBQL và giáo viên tại PTDTBT Xín Mần có nhận thức tương đối tốt về vị trí, vai trò của xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cụ thể, nội dung "Nhằm thống nhất với nhau các vấn đề giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo… thành những người chủ tương lai của đất nước" được đánh giá là quan trọng nhất. Tuy nhiên, nội dung "Việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhằm tạo cho quá trình giáo dục được thống nhất và được tốt hơn" lại nhận mức đánh giá thấp hơn. Điều này cho thấy sự chưa đầy đủ trong nhận thức về tính chủ động và liên kết sâu rộng của mối quan hệ này. Vẫn còn CBQL, giáo viên nhận thức chưa đầy đủ, chọn mức độ "ít quan trọng" hoặc "không quan trọng" (Nông Khánh Lịch, 2020). Trong việc thực hiện, giáo viên thường xuyên thông báo kết quả học tập, nhưng lại hạn chế trong việc huy động khả năng tiềm lực của gia đình, xã hội vào công tác giáo dục. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải có biện pháp cụ thể để bồi dưỡng năng lực giáo viên về kỹ năng giao tiếp sư phạmtương tác phụ huynh học sinh một cách hiệu quả hơn.

2.2. Yếu tố Ảnh hưởng Khách quan và Chủ quan trong Quản lý Bồi dưỡng Năng lực

Có nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên PTDTBT Xín Mần. Về yếu tố khách quan, yêu cầu từ chuẩn nghề nghiệp giáo viên luôn thay đổi, đòi hỏi giáo viên phải không ngừng phát triển chuyên môn giáo viênnâng cao kỹ năng sư phạm. Sự phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội còn chưa chặt chẽ, chưa phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng. Các chính sách giáo dục PTDTBT cần được cụ thể hóa và triển khai đồng bộ hơn để hỗ trợ giáo viên.

Về yếu tố chủ quan, vai trò của cán bộ quản lý là rất quan trọng. CBQL cần có trình độ chuyên môn vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và tài năng quản lý để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực giáo viên phù hợp. Giáo viên phần lớn có nhận thức tốt, dễ tiếp thu cái mới, nhưng vẫn còn một bộ phận hạn chế về trình độ nhận thức, gây khó khăn cho công tác phát triển năng lực giáo viên. Việc khắc phục những hạn chế từ cả hai yếu tố này là cần thiết để đảm bảo sự thành công của quá trình bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội tại trường PTDTBT Xín Mầnhỗ trợ học sinh dân tộc một cách toàn diện.

III. Phương pháp Bồi dưỡng Hiệu quả Năng lực Quan hệ N G Xã hội cho GV Xín Mần

Để giải quyết những thách thức trong công tác bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) Xín Mần, việc áp dụng các phương pháp bồi dưỡng hiệu quả là vô cùng cần thiết. Mục tiêu chính là giúp giáo viên không chỉ phát triển chuyên môn giáo viên mà còn nâng cao kỹ năng sư phạm trong việc xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Quá trình bồi dưỡng phải được thiết kế một cách có hệ thống, phù hợp với đặc thù giáo dục vùng caogiáo dục dân tộc thiểu số.

Theo Nông Khánh Lịch (2020), quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc cập nhật kiến thức, củng cố, mở mang và trang bị một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng cho giáo viên. Điều này bao gồm việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá kết quả, và đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất - tài chính. Các chương trình tập huấn giáo viên cần đa dạng hóa hình thức, từ tập huấn tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn liên trường, hội giảng, hội thảo, đến tự bồi dưỡng và bồi dưỡng tại chỗ. Trong đó, tự bồi dưỡng và bồi dưỡng tại chỗ đóng vai trò quyết định, giúp giáo viên chủ động tiếp thu và vận dụng kiến thức, đáp ứng kịp thời những yêu cầu thiếu hụt trong công tác kết nối cộng đồng trường họctương tác phụ huynh học sinh.

Đặc biệt, việc bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội phải tập trung vào việc trang bị cho giáo viên PTDTBT Xín Mần các kỹ năng giao tiếp sư phạm nhạy bén, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và khả năng phối hợp giáo dục cộng đồng. Những kỹ năng này không chỉ giúp giáo viên chủ động hơn trong công việc mà còn góp phần xây dựng một môi trường học tập thân thiện và hiệu quả, từ đó hỗ trợ học sinh dân tộc phát triển toàn diện. Việc quản lý giáo dục vùng khó cần ưu tiên các giải pháp bồi dưỡng linh hoạt, thực tế và có tính ứng dụng cao.

3.1. Xây dựng Chương trình Bồi dưỡng Năng lực Quan hệ và Phát triển Chuyên môn Giáo viên

Việc xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần dựa trên cơ sở kết quả tự đánh giá và nhu cầu thực tiễn của giáo viên PTDTBT Xín Mần. Chương trình phải có định hướng rõ ràng, hỗ trợ giáo viên đạt được các tiêu chuẩn về năng lực quan hệ N-G-Xã hội (Nông Khánh Lịch, 2020). Nội dung bồi dưỡng cần bao gồm: kiến thức về tâm lý học và giáo dục học gia đình, phương pháp giáo dục gia đình, kỹ năng tư vấn cho cha mẹ học sinh, và kỹ năng huy động tiềm lực xã hội vào công tác giáo dục học sinh. Đặc biệt, việc phát triển chuyên môn giáo viên phải được diễn ra thường xuyên, liên tục và có kế hoạch lâu dài để tránh sự tụt hậu trước sự vận động không ngừng của xã hội và yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp mới.

Các hình thức bồi dưỡng cần phong phú và linh hoạt như: mở các lớp tập huấn giáo viên tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn liên trường, hội giảng, hội thảo, và đặc biệt là khuyến khích tự bồi dưỡng và bồi dưỡng tại chỗ. Những hình thức này giúp giáo viên chủ động cập nhật kiến thức, kỹ năng vận dụng để bù đắp những thiếu sót, đáp ứng đủ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Qua đó, nâng cao kỹ năng sư phạm và khả năng phối hợp giáo dục cộng đồng, góp phần hỗ trợ học sinh dân tộc một cách hiệu quả nhất.

3.2. Tổ chức Tự Đánh giá và Phổ biến Tiêu chuẩn để Nâng cao Nhận thức về Quan hệ N G Xã hội

Tổ chức tự đánh giá là một bước quan trọng trong quá trình bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên. Điều khó khăn đối với giáo viên là tự xác định đúng khả năng của mình. Vì vậy, cán bộ quản lý cần hướng dẫn cụ thể để giáo viên thực hiện bước này một cách hiệu quả. Nội dung tự đánh giá bao gồm: mức độ hiểu biết về nội dung xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, mức độ đạt được các kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, và thái độ, tình cảm của giáo viên (Nông Khánh Lịch, 2020). Tự đánh giá chính xác sẽ giúp giáo viên tự tin khẳng định bản thân, từ đó có quyết tâm cao hơn trong việc tham gia vào các hoạt động kết nối cộng đồng trường học.

Bên cạnh đó, việc tổ chức phổ biến về tiêu chuẩn xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần có định hướng rõ ràng: hỗ trợ giáo viên đến đâu và đạt được gì. Phải luôn có tinh thần chia sẻ, hỗ trợ, hợp tác và tôn trọng giữa các giáo viên. Cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về thực trạng, nhu cầu nguồn lực để phát triển bền vững giáo dục cho cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội. Đồng thời, tham mưu, đề xuất giải pháp huy động nguồn lực và xử lý kịp thời các thông tin phản hồi, đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực (Nông Khánh Lịch, 2020). Điều này sẽ củng cố niềm tin và sự hợp tác địa phương giáo dục với trường PTDTBT Xín Mần.

IV. Bí quyết Kết nối Cộng đồng Trường học và Hợp tác Địa phương tại Xín Mần

Để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) Xín Mần, không chỉ dừng lại ở các chương trình tập huấn mà còn cần những bí quyết kết nối cộng đồng trường học và tăng cường hợp tác địa phương giáo dục. Mục tiêu là xây dựng một mạng lưới hỗ trợ giáo dục vững chắc, nơi mà nhà trường, gia đình và xã hội cùng chung tay vì sự phát triển của học sinh. Việc này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục vùng caogiáo dục dân tộc thiểu số, nơi mà những mối liên kết cộng đồng mang ý nghĩa sâu sắc.

Theo Nông Khánh Lịch (2020), cần tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của mối quan hệ N-G-Xã hội. Điều này là nền tảng để giáo viên chủ động và tích cực hơn trong việc phối hợp giáo dục cộng đồng. Hơn nữa, việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phải phù hợp với điều kiện thực tế của giáo viêntrường PTDTBT Xín Mần, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Các hoạt động cụ thể có thể bao gồm việc tổ chức các buổi hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm giáo dục miền núi, và các câu lạc bộ để giáo viên và phụ huynh cùng trao đổi về phương pháp giáo dục tiến bộ.

Một yếu tố không thể thiếu là tạo dựng một môi trường học tập thân thiện và hỗ trợ, nơi giáo viên cảm thấy được động viên và có cơ hội phát triển bền vững giáo dục. Điều này bao gồm việc khuyến khích giáo viên chủ động thăm hỏi gia đình học sinh để nắm bắt hoàn cảnh, môi trường học tập tại nhà và những nét tính cách của học sinh, từ đó xây dựng mục tiêu, kế hoạch giáo dục phù hợp. Chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc hỗ trợ nhà trường, cùng nhau tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh, phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng để hỗ trợ học sinh dân tộcquản lý giáo dục vùng khó một cách hiệu quả.

4.1. Tăng cường Cơ chế Phối hợp hiệu quả giữa Nhà trường Gia đình và Xã hội

Để tăng cường quan hệ nhà trường gia đình xã hội, cần thiết lập các cơ chế phối hợp chặt chẽ và thường xuyên. Nhà trường phải chủ động phối hợp liên tục với gia đình thông qua sổ liên lạc, ghi rõ kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, cùng với nhận xét và kiến nghị của giáo viên chủ nhiệm (GVCN). Đồng thời, nhà trường cần có ý kiến phản hồi từ phía gia đình để công tác phối hợp đạt hiệu quả cao (Nông Khánh Lịch, 2020). Các cuộc họp giữa nhà trường và gia đình định kỳ là cơ hội để thống nhất kế hoạch phối hợp và triển khai các văn bản chỉ đạo.

GVCN đóng vai trò giáo viên chủ nhiệm trung tâm trong việc phối hợp với phụ huynh thông qua điện thoại, email, tin nhắn hoặc gặp gỡ trực tiếp để trao đổi và thống nhất biện pháp giáo dục. Việc thăm hỏi gia đình học sinh giúp giáo viên nắm rõ hoàn cảnh, xây dựng mối quan hệ tin cậy. Các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần tuyên truyền cho giáo viên và phụ huynh về phương pháp giáo dục tiến bộ. Thành lập Ban đại diện phụ huynh học sinh và tổ chức các cuộc họp định kỳ cũng là biện pháp hiệu quả để kết nối cộng đồng trường học, tạo sự đồng thuận và hỗ trợ cho công tác giáo dục dân tộc thiểu số tại Xín Mần.

4.2. Xây dựng Môi trường Thuận lợi và Tạo Động lực Phát triển Năng lực cho Giáo viên

Việc tạo dựng một môi trường thuận lợi và động lực mạnh mẽ là yếu tố then chốt để giáo viên PTDTBT Xín Mần phát triển năng lực quan hệ N-G-Xã hội. Cán bộ quản lý và lãnh đạo địa phương cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia tích cực vào các hoạt động phối hợp giáo dục cộng đồng. Điều này bao gồm việc cung cấp đầy đủ thông tin, hỗ trợ vật chất và tinh thần, cũng như đảm bảo các chính sách giáo dục PTDTBT được triển khai hiệu quả (Nông Khánh Lịch, 2020).

Để khuyến khích giáo viên, cần định kỳ kiểm tra, đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội của họ, đồng thời có các hình thức động viên, khen thưởng kịp thời. Việc xây dựng một môi trường học tập thân thiện, khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm giáo dục miền núi và tạo cơ hội cho giáo viên tự bồi dưỡng, học hỏi lẫn nhau là cực kỳ quan trọng. Khi giáo viên cảm thấy được hỗ trợ, tin tưởng và có động lực, họ sẽ chủ động hơn trong việc kết nối cộng đồng trường học, tương tác phụ huynh học sinh và đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững giáo dục tại địa phương.

V. Đánh giá Hiệu quả và Ứng dụng Thực tiễn Bồi dưỡng Năng lực Quan hệ tại Xín Mần

Việc đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) Xín Mần là một chức năng quản lý thiết yếu, giúp kiểm tra, giám sát và điều chỉnh các hoạt động bồi dưỡng. Thông qua đó, cán bộ quản lý có thể nắm bắt được tình hình hoạt động, chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên, phát hiện những sai lệch, yếu kém để kịp thời có biện pháp cải thiện. Mục tiêu của việc đánh giá không chỉ là để chấm điểm mà còn là để thúc đẩy phát triển chuyên môn giáo viênnâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên một cách liên tục.

Theo Nông Khánh Lịch (2020), việc kiểm tra, đánh giá giúp nhà quản lý có cơ sở cho việc lập kế hoạch tiếp theo và góp phần hình thành ý thức, năng lực tự kiểm tra công việc của chính bản thân mỗi giáo viên. Trong trường học, kiểm tra việc thực hiện chuyên môn rất quan trọng, bao gồm kiểm tra hoạt động của giáo viên (kế hoạch dạy học, kế hoạch chủ nhiệm lớp, kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ) và hoạt động của tổ chuyên môn. Việc này giúp đánh giá năng lực sư phạm, mối tương tác giữa các thành viên, và quan hệ giữa giáo viên với phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội.

Đánh giá hiệu quả các biện pháp bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội đã đề xuất cũng là một phần không thể thiếu. Kết quả khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp sẽ cung cấp những bài học kinh nghiệm giáo dục miền núi quý báu. Từ đó, có thể đưa ra những điều chỉnh phù hợp, đảm bảo các giải pháp thực sự hiệu quả và khả thi trong bối cảnh giáo dục vùng cao tại trường PTDTBT Xín Mần. Việc đánh giá công tâm, chính xác sẽ là nguồn kích thích, động viên giáo viên nâng cao hiệu quả công tác, củng cố uy tín của người lãnh đạo và thúc đẩy phát triển bền vững giáo dục.

5.1. Kiểm tra Đánh giá Năng lực Quan hệ của Giáo viên một cách Định kỳ và Toàn diện

Quản lý khâu kiểm tra, đánh giá năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cho giáo viên là cực kỳ quan trọng. Hoạt động này giúp nhà quản lý nắm chắc tình hình, phát hiện sai lệch để kịp thời cải thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên (Nông Khánh Lịch, 2020). Kiểm tra bao gồm đánh giá hoạt động của từng giáo viên về năng lực sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm và khả năng xây dựng mối quan hệ N-G-Xã hội, cũng như kiểm tra hoạt động của tổ chuyên môn, hồ sơ chuyên môn, nề nếp sinh hoạt tổ và công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Kiểm tra toàn diện hay theo từng vấn đề cụ thể giúp cán bộ quản lý có cái nhìn khách quan về hiệu quả của các chương trình tập huấn giáo viên và sự tiến bộ của giáo viên. Bên cạnh đó, việc kiểm tra cũng cần đánh giá chất lượng giáo dục, trình độ kiến thức nghiệp vụ của tổ và việc ứng dụng công nghệ thông tin. Việc kiểm tra, đánh giá công tâm, dựa trên các tiêu chuẩn trong văn bản Nhà nước và quy định của nhà trường, sẽ kích thích và động viên giáo viên không ngừng phấn đấu, từ đó góp phần tạo ra một môi trường học tập thân thiện và hiệu quả tại trường PTDTBT Xín Mần.

5.2. Bài học Kinh nghiệm và Đề xuất Thúc đẩy Giáo dục Bền vững Vùng Khó

Từ kết quả khảo sát và đánh giá thực trạng bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội GV PTDTBT Xín Mần, nhiều bài học kinh nghiệm giáo dục miền núi đã được rút ra. Việc nâng cao nhận thức của cả giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của quan hệ nhà trường gia đình xã hội là yếu tố tiên quyết. Các chương trình tập huấn giáo viên cần được thiết kế sát với thực tiễn, tập trung vào kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn và khả năng tương tác phụ huynh học sinh (Nông Khánh Lịch, 2020). Đặc biệt, cần tăng cường vai trò chủ động của giáo viên chủ nhiệm và sự hợp tác địa phương giáo dục.

Trên cơ sở đó, các đề xuất chính bao gồm: Đối với UBND huyện, cần quan tâm hơn đến công tác quản lý giáo dục vùng khó, ban hành các chính sách giáo dục PTDTBT hỗ trợ giáo viên và các trường. Đối với Sở/Phòng GD&ĐT, cần xây dựng kế hoạch phát triển chuyên môn giáo viên dài hạn, cung cấp tài liệu hướng dẫn và tổ chức các lớp bồi dưỡng năng lực giáo viên chuyên sâu. Đối với các trường PTDTBT Xín Mần, cần tiếp tục củng cố cơ chế phối hợp với gia đình và xã hội, tạo môi trường học tập thân thiện, và khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng. Những biện pháp này sẽ góp phần phát triển bền vững giáo dụchỗ trợ học sinh dân tộc đạt kết quả tốt nhất.

VI. Định hướng Tương lai Bồi dưỡng Năng lực Quan hệ N G Xã hội cho GV PTDTBT Xín Mần

Việc bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên phổ thông dân tộc bán trú (GV PTDTBT) Xín Mần không chỉ là một nhiệm vụ cấp thiết trong hiện tại mà còn là chiến lược dài hạn, định hình tương lai của giáo dục vùng cao. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững giáo dục, cần có tầm nhìn chiến lược và sự cam kết mạnh mẽ từ tất cả các bên liên quan: nhà trường, gia đình, xã hội và các cấp quản lý giáo dục. Năng lực quan hệ N-G-Xã hội sẽ là nền tảng để giáo viên vượt qua những rào cản đặc thù của giáo dục dân tộc thiểu số và mang lại những giá trị thiết thực cho cộng đồng.

Trong tương lai, các chương trình bồi dưỡng năng lực giáo viên cần được đổi mới liên tục, tích hợp công nghệ thông tin và các phương pháp sư phạm hiện đại. Tập trung vào việc phát triển các kỹ năng giao tiếp sư phạm đa văn hóa, khả năng kỹ năng giải quyết mâu thuẫn linh hoạt, và năng lực kết nối cộng đồng trường học một cách chủ động. Điều này đòi hỏi sự đầu tư không ngừng vào phát triển chuyên môn giáo viên, không chỉ về kiến thức mà còn về thái độ và kỹ năng thực hành.

Theo Nông Khánh Lịch (2020), cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các mô hình quản lý bồi dưỡng tiên tiến, phù hợp với đặc điểm của trường PTDTBT Xín Mần. Việc xây dựng một hệ thống kiểm tra, đánh giá hiệu quả, công bằng và khách quan sẽ là động lực để giáo viên không ngừng học hỏi và hoàn thiện bản thân. Đồng thời, cần có các chính sách giáo dục PTDTBT hỗ trợ rõ ràng, khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội vào công tác giáo dục. Chỉ khi đó, mục tiêu hỗ trợ học sinh dân tộc phát triển toàn diện, trở thành những công dân có ích cho đất nước mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn. Tương lai của giáo dục vùng khó phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của đội ngũ giáo viên và sự chung tay của toàn xã hội.

6.1. Khẳng định Tầm quan trọng và Định hướng Phát triển Bền vững Năng lực Quan hệ

Tầm quan trọng của bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội GV PTDTBT Xín Mần là không thể phủ nhận. Đây là yếu tố quyết định sự thành công của công tác giáo dục vùng caogiáo dục dân tộc thiểu số. Việc phát triển bền vững giáo dục đòi hỏi một đội ngũ giáo viên không chỉ vững vàng về chuyên môn mà còn có khả năng xây dựng và duy trì các mối quan hệ tích cực với gia đình và xã hội. Định hướng phát triển trong tương lai cần tập trung vào việc củng cố nhận thức về quan hệ nhà trường gia đình xã hội như một nhiệm vụ cốt lõi, không thể tách rời.

Cần xây dựng một lộ trình rõ ràng để phát triển chuyên môn giáo viênnâng cao kỹ năng sư phạm liên tục, đảm bảo giáo viên luôn được cập nhật kiến thức và phương pháp mới. Khuyến khích giáo viên chủ động tham gia vào các hoạt động kết nối cộng đồng trường học, phối hợp giáo dục cộng đồngtương tác phụ huynh học sinh. Tinh thần chia sẻ kinh nghiệm giáo dục miền núi giữa các giáo viên và giữa các trường là chìa khóa để cùng nhau vượt qua khó khăn. Sự hợp tác địa phương giáo dục với các tổ chức chính trị - xã hội, các ban ngành, đoàn thể cần được đẩy mạnh để tạo ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện, nơi mọi thành phần đều chung tay vì sự nghiệp giáo dục.

6.2. Kiến nghị Chính sách và Giải pháp Hỗ trợ Toàn diện cho Giáo dục Vùng Khó

Để bồi dưỡng năng lực quan hệ N-G-Xã hội GV PTDTBT Xín Mần đạt hiệu quả cao, cần có các kiến nghị chính sách và giải pháp hỗ trợ toàn diện. Đối với Ủy ban nhân dân các cấp, cần ban hành các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần cho giáo viên công tác tại vùng khó, đồng thời tăng cường sự chỉ đạo trong việc phối hợp giáo dục cộng đồng (Nông Khánh Lịch, 2020). Sở và Phòng Giáo dục & Đào tạo cần xây dựng các chương trình tập huấn giáo viên chất lượng cao, thường xuyên, tập trung vào kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng giải quyết mâu thuẫnhỗ trợ học sinh dân tộc.

Đối với các trường PTDTBT Xín Mần, cần chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực giáo viên sát với thực tiễn địa phương, đồng thời tạo cơ chế linh hoạt để giáo viên có thể tham gia vào các hoạt động kết nối cộng đồng trường học. Tăng cường vai trò của cán bộ quản lý trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá và tạo động lực cho giáo viên. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực quan hệ N-G-Xã hội cho giáo viên, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục và thúc đẩy sự phát triển bền vững giáo dục tại Xín Mần nói riêng và các vùng dân tộc thiểu số nói chung.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý bồi dưỡng năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường gia đình và xã hội cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện xín mần tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, các nước như Mỹ, Nhật Bản, Singapore… luôn xem giáo viên là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Vì vậy mà khi quyết định đưa giáo dục Mỹ lên hàng đầu thế giới trong thế kỉ XXI, chính phủ Mỹ đã lấy giáo viên làm then chốt.A Xukhomlinxki cho rằng muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thì phải dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy. Theo ông, người tham gia dự giờ phải chỉ rõ thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm tiết dạy.Thực tế nhiều quốc gia đã khẳng định: “Bồi dưỡng giáo viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục”.

Việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm tại Nhật Bản. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giảng viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giảng viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.

Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ các nhà giáo ở các nước trên thế giới được tổ chức độc lập như các viện nghiên cứu, các trung tâm bồi dưỡng và đào tạo sư phạm. Ở đa số quốc gia, người ta đã thành lập trường sư phạm có nhiệm vụ thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo rất phong phú đa dạng phù hợp với từng đối tượng cụ thể. 7 download by : skknchat@gmail.com Trong giai đoạn hiện nay, các nhà giáo dục học và các nhà sư phạm cũng luôn nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp quản lí, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của nhiều tác giả.

Phát triển ĐNGV nói chung và phát triển năng lực của giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp nói riêng là phạm trù thuộc quản lý nguồn nhân lực; đây không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý mà đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ĐNGV cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học. Tiêu biểu như nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Trí, Phạm Viết Vượng. Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2017) trong quyển “Quản lý và quản lý nhà nước trong giáo dục” khẳng định, ĐNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy, xây dựng ĐNGV và CBQL giáo dục vừa mang tính chiến lược, vừa là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của một đất nước hiện nay.

Những vấn đề xây dựng, phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục được các tác giả xem xét như là nguồn nhân lực quan trọng nhất trong quản lý giáo dục. Gắn vấn đề nghiên cứu với yêu cầu đòi hỏi mang tính pháp lý, tác giả Trần Thu Trang nghiên cứu “Phát triển ĐNGV các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định theo chuẩn nghề nghiệp”, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2013. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã dẫn luận những tiêu chí, tiêu biểu được xác định trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông làm căn cứ lý luận cho việc đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định. Ở góc độ hẹp hơn và mang tính cập nhật với sự phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Dương Thị 8 download by : skknchat@gmail.com Lựu nghiên cứu “Biện pháp phát triển ĐNGV trường trung học phổ thông Thái Thuận, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2016.

Hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình là vấn đề bức xúc trong công tác giáo dục mà nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản đề đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường. Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như sau: - “Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình giáo dục học tập II [25, tr.83] - “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới” [29, tr.

- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ [22, tr. - “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên) [07, tr. Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Các tác giả đã dùng các khái niệm khác nhau:“thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phối hợp”, “liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh.

Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và của xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội. 9 download by : skknchat@gmail. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo viên Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” [26, tr.245] Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019 đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo: Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này.

Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên. Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: 1. Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; 2.

Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; 3. Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; 4. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. Luật giáo dục cũng đã quy định cụ thể về tên gọi đối với từng đối tượng nhà giáo theo cấp, bậc giảng dạy và công tác.

Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm như sau “GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy và GD trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp”. 10 download by : skknchat@gmail.

Năng lực, năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội 1. Năng lực Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [26; tr.322] Từ điển bách khoa Việt Nam “Năng lực là khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ”; “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân” [18; tr.

Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [32; tr. Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được ” [34, tr.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt ”[ 37; tr. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [38; tr.12] 11 download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ