Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trên thế giới, các nước như Mỹ, Nhật Bản, Singapore… luôn xem giáo viên là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Vì vậy mà khi quyết định đưa giáo dục Mỹ lên hàng đầu thế giới trong thế kỉ XXI, chính phủ Mỹ đã lấy giáo viên làm then chốt.A Xukhomlinxki cho rằng muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thì phải dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy. Theo ông, người tham gia dự giờ phải chỉ rõ thực trạng yếu kém của việc phân tích sư phạm tiết dạy.Thực tế nhiều quốc gia đã khẳng định: “Bồi dưỡng giáo viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm tại Nhật Bản. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giảng viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giảng viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ các nhà giáo ở các nước trên thế giới được tổ chức độc lập như các viện nghiên cứu, các trung tâm bồi dưỡng và đào tạo sư phạm. Ở đa số quốc gia, người ta đã thành lập trường sư phạm có nhiệm vụ thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo rất phong phú đa dạng phù hợp với từng đối tượng cụ thể. 7 download by : skknchat@gmail.com Trong giai đoạn hiện nay, các nhà giáo dục học và các nhà sư phạm cũng luôn nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp quản lí, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của nhiều tác giả.
Phát triển ĐNGV nói chung và phát triển năng lực của giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp nói riêng là phạm trù thuộc quản lý nguồn nhân lực; đây không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý mà đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý ĐNGV cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học. Tiêu biểu như nghiên cứu của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Trí, Phạm Viết Vượng. Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2017) trong quyển “Quản lý và quản lý nhà nước trong giáo dục” khẳng định, ĐNGV có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục. Vì vậy, xây dựng ĐNGV và CBQL giáo dục vừa mang tính chiến lược, vừa là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo của một đất nước hiện nay.
Những vấn đề xây dựng, phát triển ĐNGV và CBQL giáo dục được các tác giả xem xét như là nguồn nhân lực quan trọng nhất trong quản lý giáo dục. Gắn vấn đề nghiên cứu với yêu cầu đòi hỏi mang tính pháp lý, tác giả Trần Thu Trang nghiên cứu “Phát triển ĐNGV các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định theo chuẩn nghề nghiệp”, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2013. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã dẫn luận những tiêu chí, tiêu biểu được xác định trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông làm căn cứ lý luận cho việc đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV các trường trung học phổ thông thành phố Nam Định. Ở góc độ hẹp hơn và mang tính cập nhật với sự phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Dương Thị 8 download by : skknchat@gmail.com Lựu nghiên cứu “Biện pháp phát triển ĐNGV trường trung học phổ thông Thái Thuận, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2016.
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình là vấn đề bức xúc trong công tác giáo dục mà nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản đề đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường. Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như sau: - “Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình giáo dục học tập II [25, tr.83] - “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới” [29, tr.
- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ [22, tr. - “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên) [07, tr. Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Các tác giả đã dùng các khái niệm khác nhau:“thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phối hợp”, “liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh.
Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và của xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội. 9 download by : skknchat@gmail. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo viên Theo Từ điển Tiếng Việt, “Giáo viên (danh từ) là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương” [26, tr.245] Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019 đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo: Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên. Nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội, được xã hội tôn vinh. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây: 1. Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; 2.
Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; 3. Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; 4. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. Luật giáo dục cũng đã quy định cụ thể về tên gọi đối với từng đối tượng nhà giáo theo cấp, bậc giảng dạy và công tác.
Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm như sau “GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy và GD trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp”. 10 download by : skknchat@gmail.
Năng lực, năng lực xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội 1. Năng lực Từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [26; tr.322] Từ điển bách khoa Việt Nam “Năng lực là khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ”; “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân” [18; tr.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [32; tr. Howard Gardner (1999): “Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được ” [34, tr.Weinert (2001) cho rằng: “Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt ”[ 37; tr. OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [38; tr.12] 11 download by : skknchat@gmail.