Chương 1: Cơ sở lý luận về phối hợp giữa trường trung học phổ thông và trường đại học sư phạm trong bồi dưỡng năng lực cho giáo viên. Chương 2: Thực trạng phối hợp giữa trường trung học phổ thông và trường đại học sư phạm trong bồi dưỡng năng lực cho giáo viên ở tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: iện pháp phối hợp giữa trường trung học phổ thông và trường đại học sư phạm trong bồi dưỡng năng lực cho giáo viên ở tỉnh Lạng Sơn. 4 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRONG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CHO GIÁO VIÊN 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có thể kể đến như: công trình “Tự đào tạo để dạy học” của Patrice Pelpel [14], “Một số vấn đề về đào tạo GV” của Michel evelay [7], “Đào tạo GV về nghiệp v ” của Marguerite Altet [12], đã lý biện vì sao công tác đào tạo, bồi dưỡng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy người học làm trung tâm. Thông qua đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, người GV phải có năng lực vừa tập trung đi sâu vào nội dung của bộ môn, vừa tập trung đi sâu vào việc học của HS. Các công trình nghiên cứu đã tìm ra công c lý luận khoa học góp phần đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng GV nói chung.
Các tác giả Pierre Besnard (1998), Bernard Lietard, Đào tạo bồi dưỡng thường xuyên, đã đưa ra chương trình đào tạo nhà lãnh đạo trường học theo các nhóm năng lực: a) Năng lực sư phạm, giáo d c và thiết lập; b) Năng lực kiểm soát; c) Năng lực định hướng/tầm nhìn; d) Năng lực tổ chức; g) Năng lực tư vấn. Chuẩn chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo d c trường học cung cấp cho những người chuẩn bị làm lãnh đạo trường học các năng lực lãnh đạo và quản lý nhà trường [15]. Arends với công trình nghiên cứu “Học để dạy” đã đề cập đến vấn đề đổi mới cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm, do đó đòi 12 hỏi giáo viên cần nâng cao năng lực nghề nghiệp cần phải có năng lực chuyên biệt vận d ng để dạy học [24]. 5 download by : skknchat@gmail.com Tại Hoa Kỳ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên do Uỷ ban Quốc gia Chuẩn nghề dạy học (National oard for Professional Teacher Standards- NBPTS) ban hành năm 1987.
Theo đó, 5 điểm cốt lõi là: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ; (2) Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình; (3) Giáo viên phải có trách nhiệm quản lý và hướng dẫn học sinh học tập; (4) Giáo viên phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và học tập qua trải nghiệm; (5) Giáo viên phải là thành viên của cộng đồng học. Giáo viên cần phải nắm được, tận d ng và hỗ trợ phát triển các mối quan hệ cộng đồng; phát triển văn hóa trường học để thực hiện, xử lí các thách thức về vai trò và các quan hệ trong giáo d c; có kế hoạch phát triển nghề nghiệp; thu hút sự tham vấn ý kiến của người học nhằm hỗ trợ cho sự phát triển nghề nghiệp; phối hợp có hiệu quả với cha mẹ học sinh và cộng sự [22]. Tại Anh, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xây dựng gồm 3 phần: (1) Những đặc trưng nghề nghiệp; (2) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp; (3) Các kĩ năng nghề nghiệp. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xác định c thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên từ khi mới vào nghề, chuẩn cho tất cả giáo viên và giáo viên có thang bậc lương cao, giáo viên giỏi, giáo viên có kĩ năng cấp cao.
Họ quy định tiêu chuẩn nghề nghiệp giáo viên rất c thể, toàn diện để đánh giá giáo viên chính xác, công bằng. Năng lực sư phạm tạo nên nhân cách toàn diện của giáo viên, căn cứ vào đó để xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên [23]. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, người ta nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề và cho rằng phải đạt được 10 yêu cầu thuộc 4 nhóm là: (1) Năng lực dạy học; (2) Năng lực giáo d c; (3) Năng lực đánh giá; (4) Năng lực đổi mới. Giáo viên dạy nghề được đào tạo theo mô hình nhất định, giáo viên dạy lý thuyết và thực hành và được bồi dưỡng về nghiệp v khi tham gia giảng dạy và thi nâng bậc [25].
6 download by : skknchat@gmail.com Ở Philippines, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian học sinh nghỉ hè. Mô hình năng lực cho giáo viên dạy nghề gồm 24 tiêu chuẩn do chính phủ quy định. Như vậy, các nước trên thế giới đều rất quan tâm đến việc bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên dạy nghề nói riêng; qua các nghiên cứu cho thấy: 1. Chất lượng đội ngũ giáo viên luôn có ý nghĩa quyết định chất lượng đào tạo của cơ sở giáo d c và chất lượng học sinh.
Việc xây dựng, bồi dưỡng để phát triển đội ngũ giáo viên được coi là nhiệm v quan trọng của các cấp quản lý nhà nước trong mọi thời đại, mọi chế độ xã hội. Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để nâng cao trình độ mọi mặt và không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy là việc làm phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, xã hội mỗi quốc gia, trong đó nội dung quan trọng là thực hiện m c tiêu nâng cao chất lượng giáo d c đào tạo nguồn nhân lực. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của các bậc học, bậc đào tạo được xác định làm căn cứ để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Giáo viên dạy nghề là giáo viên có trình đội chuyên môn và trình độ tay nghề đáp ứng yêu cầu học, thực hành cho người học; có khả năng vừa dạy học vừa tham gia vào quá trình sản xuất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Các quốc gia đều có nhiều chính sách phù hợp điều kiện của mình nhằm hỗ trợ cho giáo viên bổ sung nâng cao kiến thức cũng như việc tổ chức đào tạo lại, bồi dưỡng giáo viên của các cơ sở giáo d c, đào tạo [dẫn theo 17]. Tại Nhật ản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo d c là nhiệm v bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo d c đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. C thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học [dẫn theo 19].Crea nhấn mạnh, bồi dưỡng GV thế kỉ 21 là bồi dưỡng các kĩ năng để giáo viên phát triển các năng lực của công dân thế kỉ 21 (năng lực sáng tạo, 7 download by : skknchat@gmail.com làm việc hợp tác, kĩ năng ICT, giải quyết vấn đề ), bồi dưỡng GV các hình thức, phương pháp dạy học mới: dạy học bằng dự án, dạy học kiến tạo, khám phá (theo hình thức nghiên cứu khoa học) và có sự liên thông giữa các môn học, liên thông với địa phương và cộng đồng nơi học sinh đang sinh sống và với thế giới bên ngoài, toàn cầu [dẫn theo 15].
Các nghiên cứu trong nước Công trình nghiên cứu Nguyễn Văn Toàn với đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông khu vực Đông Nam ộ trong bối cảnh đổi mới giáo d c”[19], trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT trong bối cảnh đổi mới G ở Việt Nam. Tác giả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT khu vực Đông Nam ộ trong bối cảnh đổi mới giáo d c ở Việt Nam, từ đó đề xuất và kiểm chứng tính khả thi của các giải pháp quản lý hoạt động GV THPT khu vực Đông Nam ộ trong bối cảnh đổi mới G ở Việt Nam. Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học” đã dành 51 trang cho Modul “Quản lý hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp trong trường trung học” [18], modul đã cung cấp kiến thức về tầm quan trọng, những nội dung cơ bản, hình thức và cách thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp, cũng cấp kiến thức về k năng tổ chức trải nghiệm hướng nghiệp ở trường phổ thông. ên cạnh đó, xác định được nhiệm v và biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đạt hiệu quả nhằm rèn luyện các năng lực hướng nghiệp và các phẩm chất cần thiết cho HS.
Từ đó, C QL vận d ng các kiến thức, k năng đã lĩnh hội được vào quản lý các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong trường phổ thông. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để tác giả triển khai cơ sở lý luận của luận văn. Chu Thị Thủy An đã nhấn mạnh đến chất lượng phát triển năng lực nghề nghiệp của người học được quyết định bởi chất lượng các hoạt động rèn luyện, phát triển năng lực mà họ được tham gia trong quá trình học tập, thông qua bài 8 download by : skknchat@gmail.com viết “Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa trường đại học sư phạm với trường phổ thông trong đào tạo giáo viên”, tác giả khẳng định mấu chốt quan trọng của mối quan hệ giữa trường đại học sư phạm và trường phổ thông được khẳng định bởi vai trò của trường phổ thông trong quá trình đào tạo, quá trình vận hành của các trường đại học. Trường phổ thông có thể là thành viên của hội đồng đào tạo trường đại học, tham gia vào quá trình đào tạo và đánh giá năng lực nghề nghiệp của sinh viên [1].
Hồ Quang Chính đã nhấn mạnh bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên phổ thông là một hoạt động thường xuyên, liên t c của các cơ sở đào tạo giáo viên và đơn vị sử d ng đội ngũ giáo viên, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo d c và đào tạo.