Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực cho giáo viên, giảng viên 1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của giảng viên, mà công tác bồi dưỡng nhà giáo được đặc biệt coi trọng.
Nhằm nâng cao trình độ về chuyên môn, năng lực sư phạm, ở các nước trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, công tác bồi dưỡng giảng viên được đặt ở nội dung chủ yếu, bởi giảng viên là nhân vật trung tâm của mọi chương trình cải cách, cải tổ và đổi mới giáo dục. Tác giả Tsunesaburo Makiguchi (Nhật Bản) khi nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng, đã đánh giá cao vai trò của hình thức tự học; tự học được xem là một phẩm chất quan trọng của nhà giáo và ông cho rằng “truyền đạt tri thức không phải và không bao giờ là mục đích của giáo dục. Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi người họcˮ và cũng xây dựng tiêu chuẩn cho nhà giáo có năng lực rất khắt khe: Theo đó, tiêu chuẩn để qua chương trình tập sự được rải trong một năm học, với tổng số thời gian tối thiểu 90 ngày; trong đó 60 ngày tập sự giảng dạy tại trường, được đồng nghiệp tư vấn chỉ dẫn; hơn 30 ngày tham dự các buổi giảng bài, hội thảo, thực hành; 5 ngày tập huấn ở các trung tâm giáo dục hoặc các cơ sở giáo dục ngoài trường. Các tác giả Rayja Roy Singh, S.
P Sharma và Shakti Ahmed [86] khi nghiên cứu cũng đánh cao việc học thường xuyên, học suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia, cố vấn và cho rằng quá trình tự bồi dưỡng của giảng viên là hình thức dạy học có hiệu quả, trong đó tính tích cực và độc lập tư duy của người 15 học là cơ sở để học tập có hiệu quả cao. Ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, có nhiều công trình nghiên cứu về BDNLGD. Công trình của X.Exipov…đưa ra cả một hệ thống lý luận và kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo và bồi dưỡng nghề nghiệp cho giảng viên, các tác giả cho rằng bản chất hoạt đồng bồi dưỡng chính là hoạt động tự tìm tòi, tự khám phá. Ở các nước phương Tây và Mỹ, các tác giả J.Trong nghiên cứu của Hannele Niemi và Ritva Jakku-Sihvonen (Phần Lan) [121], các tác giả đã mô tả, phân tích chi tiết và khảng định những thay đổi trong cấu trúc, nội dung chương trình BDGV có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.
Các tác giả như Bulach, Clêt- Pickett, Mark E Anderson, Sergiovani, David Dean, Leverme Barret (Anh), Edgar Yoder, Mc Pherson, Wynne (Mỹ), lại tập trung nghiên cứu vào các lỗi lầm dễ mắc của các nhà quản lý như: kĩ năng quan hệ con người, quan hệ nội bộ kém; thiếu khả năng nhìn nhận, thất bại trong lãnh đạo và ngăn chặn các mâu thuẫn, thiếu khả năng tạo động lực cho đội ngũ, tìm ra nguyên nhân và xác định chủ yếu là do các chương trình đào tạo, bồi dưỡng họ những vấn đề cần thiết của công tác quản lý. Các tác giả Harold Koontz, Barret và Yoder (Mĩ), A.Ribaraca (Bungari), Mc Pherson, Wynne, LT. Ở những góc độ khác nhau khi nghiên cứu, các tác giả đều nhấn mạnh về vấn đề phát huy tính tích cực của người học. Các phương pháp thảo luận nhóm, dựng cảnh, tình huống, mô phỏng, thực hành, chia sẻ kinh nghiệm,.
hay tổ chức cho học viên thăm quan, thực tập tại các cơ 16 sở giáo dục, thực hiện các bài tập thực hành, các tình huống trong chuyên môn. Trong báo cáo Jacqtues Delors, chủ tịch Ủy ban Quốc tế về giáo dục có đề cập "Học tập - một kho báu tiềm ẩn" đã xác định cho mỗi quốc gia trên toàn cầu một chìa khóa vàng để vượt qua thách thức, việc học tập suốt đời với bốn trụ cột: Học để biết (learn to know); Học để làm (learn to do); Học để cùng chung sống (learn to live toghether); Học để làm người (learn to be) [129]. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đều đề cập ở những góc độ khác nhau, đề cập về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng giảng viên với những yêu cầu cụ thể. Mục đích của các công trình đó là nhằm mục tiêu bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kiến thức khoa học, kĩ năng giảng dạy…để phát triển các NLGD cần thiết cho giảng viên, hướng tới đạt chuẩn nghề nghiệp.
Theo UNESCO, hiện nay vai trò của nhà giáo có sự thay đổi nhiều đó là: (I) - Đảm nhiệm nhiều chức năng hơn, có trách nhiệm nặng nề hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; (II) - Dịch chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của sinh viên, sử dụng tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; (III) - Coi trọng hơn việc cá biệt hóa học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (IV) - Yêu cầu đáp ứng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại; (V) - Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với đồng nghiệp; (VI) - Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với người học, cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [136]. Maxwell, Andrew Carnegie, Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (Trung Quốc), Pam Robbins Harvey B. cho rằng cần phải "Bồi dưỡng phát triển các kĩ năng cho nhân sự" [56]. Hay quan điểm "Hiệu trưởng như một học viên suốt đời" và "Hiệu trưởng muốn giúp giảng viên cải thiện công việc của họ thì Hiệu trưởng phải liên tục học tập để thực hiện và cải thiện chính công việc mình đang làm".
Phẩm chất, năng lực của nhà giáo 17 phụ thuộc phần lớn vào quá trình tự học của họ, sự nỗ lực để cập nhật kiến thức và những kỹ năng sư phạm còn thiếu, còn lạc hậu. Ở đây quan niệm "tự học" đồng nghĩa với “tự bồi dưỡng”. Có thể nói, mọi quốc gia trên thế giới đều đặt đội ngũ nhà giáo vào một vị trí ưu tiên trong cải cách và phát triển giáo dục. Các biện pháp phát triển đội ngũ tuy có khác nhau ở mỗi nước, nhưng đều tập trung vào quy hoạch, kế hoạch trong chiến lược phát triển mang tính tổng thể và cụ thể; đào tạo đội ngũ giảng viên đạt chuẩn ngay từ đầu, xiết chặt tuyển dụng để đảm bảo chất lượng; thực hiện các chính sách để thu hút nhân tài; đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng nâng chuẩn để luôn đổi mới đội ngũ, coi đào tạo, bồi dưỡng là hai khâu quan trọng nhất [56].
Nghiên cứu về phương pháp bồi dưỡng giảng viên, một số tác giả cho rằng nhà giáo giỏi là những người biết nắm bắt cơ hội học hỏi. "What makes a good Teacher ?" (Điều gì làm nên người thầy tốt) [131] của tác giả Marie F. Các quốc gia Châu Âu đã thay đổi chính sách cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng cách tạo điều kiện tốt nhất cho giảng viên, sinh viên được đào tạo, bồi dưỡng liên tục nhằm phát triển giảng viên chuyên nghiệp. Về hình thức bồi dưỡng, hoạt động bồi dưỡng giảng viên được diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên, "Học tập suốt đời" là quan điểm lớn trong hoạt động học tập, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của mỗi con người trong xã hội phát triển. "Teacher Professional development: an International review of the literature" (Phát triển giáo viên chuyên nghiệp: Góc nhìn của các nhà nghiên cứu quốc tế) [126], của tác giả Eleonora Villegas - Reimers, Viện Hoạch định giáo dục Quốc tế (UNESSCO). Nghiên cứu đã khẳng định "Trong xã hội, nhà giáo không chỉ có một biến mà cần phải được thay đổi để cải thiện hệ thống giáo dục của họ, nhưng họ cũng là những người làm nên sự thay đổi quan trọng nhất trong những cải cách này" [126]. 18 Thực tế nhiều quốc gia đã khẳng định: Bồi dưỡng nhà giáo là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục.
Việc tạo điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời; kịp thời bổ sung kiến thức và kỹ năng; đổi mới phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với nhu cầu học tập trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội là phương châm của các cấp quản lý giáo dục. Chính vì vậy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giảng viên, phát triển giảng viên, quản lý giáo dục và quản lý giảng viên. Năm 2010, với đề tài: “Tầm quan trọng của học lâm sàng trong đào tạo điều dưỡng”. Katie Tonarely đã nhấn mạnh vai trò của học lâm sàng; mục tiêu của việc học lâm sàng là chuẩn bị cho sinh viên có thể làm công việc chăm sóc bệnh nhân một cách độc lập.
Tác giả cũng nhấn mạnh đến những lợi ích của sinh viên học lâm sàng với sự hướng dẫn của giảng viên sẽ giúp sinh viên có được những thái độ phù hợp trong việc chăm sóc người bệnh một cách chuyên nghiệp, quản lý việc học lâm sàng của chính bản thân. Nhờ vào xử lý các tình huống lâm sàng, giảng viên có thể đánh giá sinh viên về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề và thái độ của họ đối với người bệnh. Tác giả Catherine Armstrong (2010), trong bài viết “Làm thế nào để trở thành giảng viên” [114], hay Catherine Buns, tiến sĩ điều dưỡng và các đồng nghiệp, Beauchesnes, Ryan - Krause và Sawin (2006) đã viết bài báo có tựa đề “Nâng cao vai trò thầy giáo - thách thức đối với giảng dạy lâm sàng” họ đã đưa ra các mục tiêu cho việc dạy học lâm sàng đó là: Tăng cường kiến thức và kỹ năng cho sinh viên Nâng cao khả năng thực hành và hiệu quả Khuyến khích đẩy mạnh học lâm sàng một cách độc lập Tập cho sinh viên biết cách tối ưu hóa sức khỏe cho bệnh nhân. Trở thành một bác sĩ có năng lực, độc lập và biết hợp tác [114].
19 Năm 1985 Fred Abbatt và Rosemary McMahon cho xuất bản cuốn: “Giảng dạy nhân viên chăm sóc sức khỏe” đây là tài liệu được nhiều nước trên thế giới dùng để giảng dạy cho đội ngũ nhân viên y tế, hướng dẫn cho giảng viên bằng cách phân tích, xác định nhiệm vụ của từng người, từ đó nhận biết những gì mà sinh viên cần học và giảng viên cần dạy những kiến thức, kỹ năng hay thái độ nghề nghiệp cho sinh viên.