Luận văn: Quản lý bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại - Ninh Giang

Chuyên khảo giáo dục phân tích Luân văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp trong môi, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2017

138
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại

Trong bối cảnh giáo dục 4.0, vai trò của người giáo viên chủ nhiệm (GVCN) cấp THCS ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp. GVCN không chỉ là người quản lý lớp học mà còn là nhà giáo dục, người cố vấn, và cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Việc bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại là một yêu cầu cấp thiết để đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện. Môi trường giáo dục ngày nay đã thay đổi sâu sắc với sự tác động của công nghệ thông tin, mạng xã hội và những biến đổi trong cấu trúc gia đình. Theo nghiên cứu của Đào Thanh Nam (2017), học sinh THCS đang ở lứa tuổi “tập làm người lớn”, rất dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tiêu cực bên ngoài. Do đó, GVCN cần được trang bị một hệ thống kỹ năng chuyên biệt để định hướng, hỗ trợ và giáo dục học sinh một cách hiệu quả. Công tác chủ nhiệm lớp không còn gói gọn trong việc quản lý nề nếp, mà phải mở rộng sang các lĩnh vực như tư vấn tâm lý, tổ chức hoạt động trải nghiệm, và xử lý khủng hoảng. Sự thành công của công tác giáo dục tại nhà trường phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ GVCN. Một GVCN giỏi sẽ xây dựng được một tập thể lớp đoàn kết, tự quản, tạo ra môi trường học tập tích cực, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Chính vì vậy, việc quản lý và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng cho GVCN một cách khoa học, bài bản và sát với thực tiễn là nhiệm vụ chiến lược của các nhà quản lý giáo dục.

1.1. Tầm quan trọng của người giáo viên chủ nhiệm GVCN

GVCN là người thay mặt hiệu trưởng quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện cho một lớp học. Vị trí này đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của học sinh. GVCN là người xây dựng tập thể lớp thành một khối đoàn kết, là cố vấn cho các hoạt động của Đoàn, Đội và là người phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Đặc biệt với học sinh THCS, giai đoạn có nhiều biến động về tâm sinh lý tuổi nhỏ, sự đồng hành và định hướng của GVCN là yếu tố then chốt giúp các em vượt qua khó khăn, phát triển lành mạnh. Một GVCN tâm huyết và có kỹ năng tốt sẽ là người truyền cảm hứng, tạo động lực học tập và rèn luyện cho học sinh, góp phần quyết định vào sự thành công của mục tiêu giáo dục.

1.2. Môi trường giáo dục hiện đại và những yêu cầu mới

Môi trường giáo dục hiện đại được đặc trưng bởi sự bùng nổ của công nghệ, sự thay đổi trong phương pháp dạy học và những áp lực xã hội đa chiều. Học sinh ngày nay tiếp cận thông tin dễ dàng qua Internet và các mạng xã hội như Facebook, Zalo. Điều này vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Các em có nguy cơ đối mặt với bạo lực học đường trên mạng, quấy rối và những thông tin độc hại. Bên cạnh đó, thực trạng các gia đình có tỷ lệ ly hôn cao, cha mẹ ít có thời gian quan tâm con cái cũng đặt gánh nặng lên vai GVCN. Do đó, GVCN hiện đại phải có kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng tư vấn tâm lý và năng lực xử lý các tình huống phức tạp phát sinh từ môi trường số và xã hội.

II. Những thách thức trong công tác chủ nhiệm lớp THCS 4

Mặc dù vai trò của GVCN là không thể phủ nhận, thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp tại nhiều trường THCS đang đối mặt với vô vàn thách thức. Nghiên cứu tại huyện Ninh Giang, Hải Dương cho thấy nhiều GVCN vẫn còn hạn chế về kỹ năng, chưa đáp ứng được yêu cầu của môi trường giáo dục hiện đại. Các hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tại các nhà trường chưa được quan tâm đúng mức, thường mang tính hình thức và thiếu tính hệ thống. Việc quản lý hoạt động bồi dưỡng còn nhiều bất cập, kế hoạch bồi dưỡng chưa xuất phát từ khảo sát thực trạng, nội dung bồi dưỡng chưa sát với những khó khăn thực tế mà giáo viên gặp phải. Nhiều giáo viên cảm thấy áp lực và lúng túng khi phải đối mặt với các học sinh có hành vi không mong đợi, các vấn đề về tâm lý phức tạp hay các mâu thuẫn trong tập thể lớp. Hơn nữa, sự phối hợp giữa GVCN với gia đình và các lực lượng xã hội khác đôi khi còn hời hợt, chưa tạo thành một khối liên kết vững chắc để giáo dục học sinh. Những thách thức này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục nhân cách và kết quả học tập của học sinh, làm giảm hiệu quả của công tác giáo dục toàn diện trong nhà trường.

2.1. Hạn chế về kỹ năng CNL của giáo viên trong thực tiễn

Khảo sát thực tế cho thấy một bộ phận không nhỏ GVCN còn yếu ở các kỹ năng cốt lõi. Cụ thể, kỹ năng tư vấn, tham vấn cho học sinh còn rất hạn chế, giáo viên thường chỉ dừng lại ở việc khuyên bảo chung chung thay vì đi sâu vào gốc rễ vấn đề tâm lý của các em. Kỹ năng tổ chức hoạt động tự quản của học sinh chưa được phát huy, dẫn đến tình trạng GVCN phải ôm đồm quá nhiều việc, trong khi học sinh lại thiếu tính chủ động. Đặc biệt, việc giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi vẫn là một bài toán khó, nhiều giáo viên còn sử dụng các biện pháp kỷ luật tiêu cực, chưa tiếp cận theo hướng giáo dục kỷ luật tích cực.

2.2. Bất cập trong hoạt động quản lý bồi dưỡng tại trường

Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp ở nhiều trường còn tồn tại nhiều yếu kém. Kế hoạch bồi dưỡng thường được xây dựng một cách chung chung, không dựa trên việc khảo sát và phân tích nhu cầu thực tế của giáo viên. Các hình thức bồi dưỡng còn đơn điệu, chủ yếu là các buổi tập huấn tập trung, thiếu các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên đề hay tự bồi dưỡng có định hướng. Theo luận văn của Đào Thanh Nam, "việc kiểm tra đánh giá sau bồi dưỡng chưa được quan tâm", dẫn đến hiệu quả của các hoạt động bồi dưỡng không cao và không đo lường được sự tiến bộ của giáo viên.

III. Top 5 kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS cần được bồi dưỡng ngay

Để nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, việc xác định và tập trung bồi dưỡng các kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại là vô cùng cần thiết. Dựa trên phân tích cơ sở lý luận và thực trạng, 5 nhóm kỹ năng sau đây được xem là cốt lõi và cần được ưu tiên trong các chương trình bồi dưỡng. Thứ nhất là kỹ năng xây dựng, sử dụng hồ sơ học sinh và tổ chức hoạt động tự quản. Đây là nền tảng để GVCN nắm bắt thông tin và phát huy vai trò chủ thể của học sinh. Thứ hai là kỹ năng tư vấn, tham vấn cho học sinh, giúp giải quyết các vấn đề tâm lý và định hướng phát triển nhân cách. Thứ ba, kỹ năng giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi, một năng lực quan trọng để xử lý các tình huống sư phạm khó. Thứ tư, kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp từ gia đình, nhà trường và xã hội. Cuối cùng là kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý lớp học và giao tiếp hiệu quả. Việc trang bị đầy đủ các kỹ năng này sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm tự tin và chủ động hơn trong công việc, biến những thách thức thành cơ hội để giáo dục học sinh phát triển toàn diện.

3.1. Kỹ năng xây dựng hồ sơ và tổ chức hoạt động tự quản

Kỹ năng này bao gồm việc thu thập, phân tích và hệ thống hóa thông tin về từng học sinh để xây dựng hồ sơ cá nhân chi tiết. Dựa trên hồ sơ, GVCN có thể hiểu rõ hoàn cảnh, năng lực và tâm tư của các em. Song song đó, việc tổ chức hoạt động tự quản thông qua việc xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, phân công nhiệm vụ rõ ràng và trao quyền cho học sinh sẽ giúp hình thành một tập thể lớp năng động, có trách nhiệm. GVCN đóng vai trò là người cố vấn, hướng dẫn để đội ngũ cán bộ lớp điều hành hiệu quả các hoạt động, từ đó rèn luyện kỹ năng lãnh đạo và tính tự giác cho học sinh.

3.2. Kỹ năng tư vấn tham vấn tâm lý cho học sinh hiệu quả

Học sinh THCS đối mặt với nhiều khủng hoảng tâm lý liên quan đến học tập, tình bạn, gia đình và sự phát triển bản thân. Kỹ năng tư vấn, tham vấn đòi hỏi GVCN phải biết lắng nghe tích cực, thấu cảm và tôn trọng học sinh. Thay vì đưa ra lời khuyên áp đặt, GVCN cần khơi gợi để học sinh tự nhận thức vấn đề và tìm ra giải pháp. Việc này giúp các em lấy lại cân bằng tâm lý, phát triển khả năng tự giải quyết vấn đề và tránh được các hậu quả tiêu cực như trầm cảm hay các hành vi cực đoan.

3.3. Bí quyết giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi

Đối với học sinh có hành vi không mong đợi, GVCN cần tiếp cận một cách khoa học và nhân văn. Trước hết, cần tìm hiểu căn nguyên của hành vi, có thể xuất phát từ yếu tố tâm lý, hoàn cảnh gia đình hay môi trường xã hội. Thay vì trừng phạt, phương pháp giáo dục kỷ luật tích cực được ưu tiên. GVCN cần xây dựng mối quan hệ tin cậy, giúp học sinh nhận thức được hậu quả của hành vi tiêu cực và lập kế hoạch thay đổi. Việc tập trung vào điểm mạnh và khích lệ sự tiến bộ, dù là nhỏ nhất, sẽ giúp các em dần điều chỉnh hành vi và tái hòa nhập với tập thể.

IV. Phương pháp quản lý bồi dưỡng kỹ năng GVCN toàn diện

Để hoạt động bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại thực sự hiệu quả, công tác quản lý cần được thực hiện một cách khoa học và đồng bộ. Quá trình này không chỉ dừng lại ở việc tổ chức các lớp tập huấn, mà phải là một chu trình khép kín bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Hiệu trưởng và các cán bộ quản lý đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và tạo điều kiện cho GVCN phát triển năng lực. Một kế hoạch bồi dưỡng tốt phải xuất phát từ việc khảo sát thực trạng, xác định rõ những kỹ năng mà đội ngũ GVCN còn yếu và đang cần nhất. Từ đó, xây dựng nội dung và lựa chọn hình thức bồi dưỡng phù hợp, kết hợp giữa bồi dưỡng tập trung, sinh hoạt theo tổ chuyên môn và khuyến khích tự bồi dưỡng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và tổ chức bồi dưỡng cũng giúp tăng tính tương tác và hiệu quả. Cuối cùng, một quy trình kiểm tra, đánh giá minh bạch sẽ giúp đo lường kết quả, rút kinh nghiệm và liên tục cải tiến chất lượng quản lý hoạt động bồi dưỡng.

4.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng dựa trên khảo sát thực tế

Bước đầu tiên và quan trọng nhất là khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ GVCN. Nhà trường có thể sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn sâu hoặc quan sát thực tế để xác định những điểm mạnh, điểm yếu về kỹ năng chủ nhiệm. Dựa trên kết quả này, kế hoạch bồi dưỡng được xây dựng với mục tiêu, nội dung và lộ trình cụ thể. Kế hoạch cần chỉ rõ kỹ năng nào cần bồi dưỡng tập trung, kỹ năng nào có thể bồi dưỡng thông qua trao đổi kinh nghiệm, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nhà trường.

4.2. Đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng tập trung và tự học

Thay vì chỉ tổ chức các buổi tập huấn đại trà, cần kết hợp nhiều hình thức bồi dưỡng linh hoạt. Bồi dưỡng tập trung có thể mời các chuyên gia giảng dạy về các chuyên đề khó như tư vấn tâm lý học đường hay xử lý khủng hoảng. Sinh hoạt tổ chuyên môn là nơi để các GVCN chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận các tình huống thực tế và cùng nhau tìm giải pháp. Đặc biệt, cần phát huy vai trò tự bồi dưỡng của giáo viên bằng cách cung cấp tài liệu, định hướng các nội dung nghiên cứu và tạo cơ chế khuyến khích, ghi nhận sự nỗ lực của mỗi cá nhân.

4.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chủ nhiệm

Việc bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin là một yêu cầu bắt buộc trong thời đại số. GVCN cần được hướng dẫn sử dụng các công cụ để quản lý hồ sơ học sinh một cách khoa học, tạo các nhóm Zalo, Facebook để kết nối nhanh chóng với phụ huynh, hay sử dụng các phần mềm để thiết kế giờ sinh hoạt lớp sinh động, hấp dẫn. Công nghệ không chỉ giúp GVCN tiết kiệm thời gian, công sức mà còn tạo ra một kênh giao tiếp hiệu quả, minh bạch, tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục.

V. Hướng dẫn ứng dụng thực tiễn và kiểm tra đánh giá

Việc bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp THCS hiện đại sẽ không có ý nghĩa nếu những kiến thức, kỹ năng đó không được vận dụng vào thực tiễn. Do đó, sau quá trình bồi dưỡng, các nhà quản lý giáo dục cần tạo ra một môi trường thuận lợi để GVCN thực hành và phát triển các kỹ năng đã học. Điều này bao gồm việc trao quyền tự chủ lớn hơn cho GVCN trong việc tổ chức các hoạt động của lớp, khuyến khích các sáng kiến đổi mới trong công tác chủ nhiệm lớp, và hỗ trợ kịp thời khi họ gặp khó khăn. Song song với việc tạo môi trường, công tác kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện thường xuyên và đa dạng. Việc đánh giá không chỉ dựa trên các báo cáo thành tích mà còn thông qua dự giờ sinh hoạt lớp, phỏng vấn học sinh và phụ huynh, hoặc đánh giá qua các sản phẩm cụ thể như kế hoạch chủ nhiệm, hồ sơ theo dõi học sinh. Kết quả đánh giá là cơ sở để ghi nhận sự tiến bộ của GVCN, đồng thời là nguồn dữ liệu quan trọng để điều chỉnh các hoạt động bồi dưỡng trong giai đoạn tiếp theo, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của chương trình.

5.1. Xây dựng môi trường giáo dục để vận dụng kỹ năng CNL

Một môi trường giáo dục cởi mở, dân chủ và hỗ trợ là điều kiện tiên quyết để GVCN vận dụng kỹ năng. Ban giám hiệu cần tin tưởng, giao quyền và tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất để GVCN tổ chức các hoạt động trải nghiệm, các buổi sinh hoạt chuyên đề hay các dự án học tập của lớp. Môi trường này cũng cần có một dư luận tập thể lành mạnh trong hội đồng sư phạm, nơi mọi người sẵn sàng chia sẻ, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau trong công tác chủ nhiệm, xem khó khăn là cơ hội để cùng nhau phát triển.

5.2. Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng GVCN

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng không thể thiếu trong quản lý hoạt động bồi dưỡng. Quy trình này cần được thực hiện một cách toàn diện. Các hình thức có thể bao gồm: yêu cầu GVCN viết bài thu hoạch, thi giáo viên chủ nhiệm giỏi, tổ chức các buổi báo cáo kinh nghiệm, dự giờ sinh hoạt lớp. Đặc biệt, cần lấy ý kiến phản hồi từ học sinh và phụ huynh về hiệu quả công tác của GVCN. Kết quả đánh giá phải được phân tích kỹ lưỡng, chỉ ra những điểm đã làm tốt và những mặt cần cải thiện, từ đó có những điều chỉnh phù hợp cho kế hoạch bồi dưỡng trong tương lai.

21/09/2025
Luân văn thạc sĩ khoa học giáo dục quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp trong môi trường giáo dục hiện đại cho giáo viên chủ nhiệm các trường trung học cơ sở huyện ninh giang tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG CHỦ NHIỆM LỚP TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ rất lâu, công tác quản lý luôn là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm: Tổng kết kinh nghiệm, tìm ra quy luật vận động cùng các nguyên tắc hoạt động để đạt được mục đích nâng cao hiệu quả quản lý. Trong tiến trình xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước, các vấn đề về quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng càng được chú ý, trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà cả các nhà lãnh đạo, nhà quản lý cũng rất quan tâm, tìm hiểu và khai thác triệt để, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xã hội có nhiều thay đổi thì công tác quản lý cần phải có sự thay đổi cho phù hợp. Trong tổng thể công tác quản lý giáo dục, quản lý nhà trường nói chung và quản lý nhà trường phổ thông hiện nay nói riêng, bên cạnh quản lý dạy học thì quản lý công tác chủ nhiệm lớp có tầm quan trọng đặc biệt để các nhà trường đảm bảo được mục tiêu giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng dạy và học hướng tới đào tạo, bồi dưỡng được thế hệ - nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước.

Trong tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva,1984), Bôn - đư - rép N. đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông. Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Đặc biệt, cuốn tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2005) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.vn/ cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên.

Như vậy, người GV cần tổ chức các họat động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó. Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung giáo dục cho học sinh trung học mà có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Những nội dung giáo dục học sinh như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hướng nghiệp… Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có nhiều tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề công tác chủ nhiệm lớp: Trong tác phẩm “một số vấn đề về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung đã đề cập đến thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông hiện nay. Tác giả Nguyễn Thanh Bình với công trình “Công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT”.

Trong công trình này tác giả đã chỉ rõ, vai trò cũng như nội dung công tác của người GVCN lớp ở các nhà trường phổ thông. Nhưng yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp. Ngoài ra còn có nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình như: Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang với các tác phẩm “Công tác GVCN ở các trường phổ thông”, “Những tình huống giáo dục học sinh của người GVCN”. Đề cập đến công tác chủ nhiệm lớp cũng đã có những công trình, đề tài nghiên cứu, đó là: “Một số biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh” luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Khắc Hiền (ĐHSP Hà Nội.

2005); “Một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung ương” luận văn Thạc sĩ của Lê Phú Thắng ĐHSP Vinh. 2010; “Trí tuệ xúc cảm của giáo viên chủ nhiệm lớp THCS” Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (Viện Khoa học Giáo dục. 2008); “Phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm trường THPT” của Hà Nhật Thăng (NXB ĐHQG Hà Nội. 2000) và đặc biệt tại Hội thảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.vn/ bàn về công tác GVCN ở trường phổ thông do Bộ GD & ĐT tổ chức vào tháng 8/2010 có nhiều bài viết của các nhà khoa học và các nhà QLGD có giá trị, đó là: “Nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của PGS.

TS Bùi Văn Quân; “Một vài điểm mới trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” của PGS. TS Hà Nhật Thăng; “Phương hướng nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” của PGS. TS Nguyễn Dục Quang; “Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông quan niệm và một số kiến giải” của PGS.TS Đặng Quốc Bảo; “Sứ mệnh và vai trò của giáo viên chủ nhiệm” của PGS.TS Mạc Văn Trang; “Nâng cao năng lực làm công tác chủ nhiệm cho giáo viên” của PGS.TS Nguyễn Văn Khôi; “Giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục đạo đức cho học sinh” của Hoàng Thị Nga. Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về xây dựng các giải pháp quản lý nhà trường nói chung và công tác chủ nhiệm lớp, quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông nói riêng, dưới các hình thức khác nhau, tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào chỉ ra các yêu cầu năng lực cần có của GVCN, vào các biện pháp quản lí việc bồi dưỡng của GVCN nói chung, chưa cập nhật được nhưng thay đổi trong môi trường giáo dục hiện nay, chưa đưa ra được các giải pháp giúp công tác quản lý, giáo viên chủ nhiệm lớp khắc phục được những khó khăn mới nảy sinh.

Như các luận văn: “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT thành phố Lào cai”, “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THCS quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội”, “ Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Yên Bái”, “Một số giải pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung ương”. “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ Viết về công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp nói chung có các luận văn: “Biện pháp quản lí bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên trường THPT Yên Hòa, Hà Nội”, “Biện pháp bồi dưỡng năng lực chủ nhiệm lớp cho giáo viên các trường Tiểu học thành phố Hạ Long”. Ở 2 luận văn này đã đề ra một số biện pháp để quản lý và bồi dưỡng một số năng lực cho GVCN, tuy nhiên các biện pháp chưa cụ thể, chưa vận dụng hết các chức năng của quản lý, đặc biệt là chưa đi sâu vào quản lý các hoạt động bồi dưỡng các kỹ năng chủ nhiệm lớp.

Vì vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp trong môi trường giáo dục hiện đại, việc chỉ đạo thực hiện công tác bồi dưỡng, tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả công tác bồi dưỡng, xây dựng môi trường giáo dục để GVCN vận dụng các kỹ năng chưa thực sự được quan tâm đây là nguyên nhân chính khiến công tác chủ nhiệm lớp của nhiều giáo viên trong giai đoạn hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu. Do vậy việc nghiên cứu các biện pháp “Quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp trong môi trường giáo dục hiện đại cho giáo viên các trường THCS huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương” có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THCS huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương, góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo. Một số khái niệm công cụ có liên quan đến đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục 1.

Quản lý Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm khác nhau: - Theo Hà Thế Ngữ “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [15]. - Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.vn/ khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9]. Chức năng quản lý: Xét theo quá trình, quản lý có 4 chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình QL.

Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen nhau, bổ sung cho nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Hoa ̣t đô ̣ng quản lý gồm hai bô ̣ phâ ̣n cấu thành: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý là con người hoặc tổ chức do con người lập nên. Khách thể quản lý có thể là ngưòi, tổ chức, vừa có thể là vâ ̣t cụ thể như: Trường học, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, môi trường., cũng có thể là những vật trừu tượng: nội quy, quy chế, luật lệ.

Cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn. Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau. Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý. Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt tới mục tiêu.

Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao đông. Hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý phát triển thì phẩm chất năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ