Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế, quyết định sự luân chuyển vốn và hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc gia. Trong giai đoạn bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, tỷ lệ tổng tài sản hệ thống ngân hàng trên GDP năm 2003 của Việt Nam chỉ đạt khoảng 54%, khiêm tốn hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan (145%), Malaysia (193%) và Trung Quốc (211%). Đứng trước bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thực thi cam kết theo Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA) và Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), ngành ngân hàng trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh chưa từng có từ các tập đoàn tài chính đa quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá mức độ sẵn sàng và năng lực phục vụ thực tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới tác động của tự do hóa tài chính. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích tác động hai chiều của tự do hóa thị trường dịch vụ tài chính; rà soát toàn diện năng lực cạnh tranh và nhận diện những cản trở nội tại; khảo sát hành vi lựa chọn của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực phục vụ cho khối ngân hàng và khuyến nghị chính sách cho các cơ quan quản lý.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động tại các trung tâm kinh tế trọng điểm gồm Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ, trong mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2007. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp hệ thống ngân hàng cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) hướng tới chuẩn quốc tế tối thiểu 8%, chuẩn hóa quy trình giao dịch một cửa và gia tăng thị phần dịch vụ bán lẻ trước lộ trình mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tự do hóa tài chính của Ronald McKinnon và Edward Shaw, nhấn mạnh vai trò dỡ bỏ các biện pháp kiểm soát lãi suất hành chính, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc và xóa bỏ cơ chế tín dụng chỉ định nhằm thúc đẩy cạnh tranh theo tín hiệu thị trường. Tiến trình này gắn liền với 4 phương thức cung cấp dịch vụ tài chính theo Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO: cung cấp qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng Mô hình Lợi thế quốc gia (Diamond Model) của Michael Porter để giải cấu trúc năng lực cạnh tranh ngành ngân hàng thông qua 4 nhân tố tương hỗ: Chiến lược và cơ cấu cạnh tranh doanh nghiệp; Điều kiện các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực, công nghệ); Điều kiện về cầu dịch vụ; và Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ như viễn thông, công nghệ thông tin và kiểm toán. Khung phân tích SWOT cùng hệ thống chỉ tiêu CAMEL (An toàn vốn, Chất lượng tài sản, Quản trị, Lợi tức, Thanh khoản) được tích hợp để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu nội tại và các cơ hội, thách thức từ môi trường kinh doanh bên ngoài.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: Năng lực phục vụ (tổng hòa giữa cơ sở vật chất, quy trình giao dịch, công nghệ và trình độ nhân sự tạo nên hình ảnh thương hiệu và sự hài lòng của khách hàng); Tự do hóa tài chính; Tỷ lệ an toàn vốn (CAR); và Nợ quá hạn (NPL).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) giai đoạn 2000 - 2005 với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm hơn 20 doanh nghiệp và hơn 200 khách hàng cá nhân đang và sẽ sử dụng dịch vụ ngân hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ.

Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên (chọn mẫu thuận tiện) được áp dụng để tiếp cận trực tiếp các đối tượng có tần suất giao dịch tài chính cao tại hai đô thị đại diện cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phương pháp này giúp phản ánh nhanh nét đặc trưng trong hành vi tiêu dùng dịch vụ ngân hàng trong điều kiện nguồn lực thời gian và nhân lực nghiên cứu có hạn.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, suy luận logic và phương pháp duy vật biện chứng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp xâu chuỗi bản chất của các biến động vĩ mô với thực trạng vi mô của từng tổ chức tín dụng, giải thích nguyên nhân sâu xa của các hạn chế trong năng lực phục vụ mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần khó bao quát hết. Toàn bộ quá trình thu thập tài liệu, khảo sát và xử lý dữ liệu được tiến hành từ năm 2004 đến năm 2006, hoàn thiện tổng hợp vào năm 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị phần dịch vụ ngân hàng tồn tại sự phân cực sâu sắc. 5 Ngân hàng Thương mại Quốc doanh (NHTMQD) chiếm lĩnh vị thế áp đảo với 77% đến 80,6% thị phần huy động vốn và nắm giữ khoảng 76,5% tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống. Ngược lại, 35 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) chỉ chiếm khoảng 11,8% huy động và 9,2% cho vay. Nhóm 35 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh nắm giữ thị phần khiêm tốn dưới 10% tín dụng do phải chịu các giới hạn pháp lý về huy động tiền gửi nội tệ và mạng lưới hoạt động.

Thứ hai, quy mô tài chính và đệm an toàn vốn của các ngân hàng nội địa còn rất mỏng. Mặc dù tổng vốn điều lệ toàn hệ thống tăng trưởng 3,5 lần, từ 6.000 tỷ đồng năm 2001 lên mức 21.000 tỷ đồng năm 2004, vốn điều lệ bình quân của mỗi ngân hàng chỉ dao động từ 20 triệu đến vài trăm triệu USD. Hệ số an toàn vốn (CAR) của khối NHTMQD chỉ đạt xấp xỉ 4%, thấp hơn nhiều so với chuẩn mực tối thiểu 8% của quốc tế (ngoại trừ Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long đạt 8%). Quy định mức trần cho vay không vượt quá 15% vốn điều lệ cho một khách hàng đã hạn chế trực tiếp năng lực tài trợ của các ngân hàng trong nước đối với các dự án kinh tế quy mô lớn.

Thứ ba, cấu trúc thị trường tài chính mất cân đối và thói quen sử dụng tiền mặt còn nặng nề. Tỷ lệ tiền mặt trên GDP của Việt Nam chiếm tới 15% trong khi tỷ lệ M2/GDP đạt 62,4% vào năm 2003. Tỷ lệ tín dụng nội địa trên GDP đạt 52,5%, thua xa mức 152,9% của Malaysia và 112,8% của Thái Lan. Mức độ đô la hóa nền kinh tế ở mức 23% năm 2003 và tỷ trọng tiền gửi bằng đô la Mỹ đạt 31% vào cuối năm 2004. Trong tổng tài sản các trung gian tài chính năm 2003, hệ thống ngân hàng chiếm tới 52%, trong khi thị trường chứng khoán chỉ chiếm 3,3% và bảo hiểm chiếm 2,35%.

Thứ tư, bất cập trong hạ tầng công nghệ và quy trình nghiệp vụ. Hệ thống 901 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và mạng lưới Tiết kiệm Bưu điện tại 4.800 bưu cục (đã huy động 8.500 tỷ đồng cho Quỹ Hỗ trợ Phát triển) cho thấy tiềm năng bán lẻ rộng lớn. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại dù đã chi hàng triệu USD cho các đề án hiện đại hóa nhưng hệ thống kỹ thuật vẫn thiếu tính đồng bộ. Các máy ATM chưa liên thông hoàn toàn, thủ tục hành chính còn rườm rà, mô hình giao dịch một cửa chưa triệt để khiến khách hàng mất nhiều thời gian di chuyển qua nhiều quầy nghiệp vụ.

Thảo luận kết quả

Theo báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh tài chính của IMF, Việt Nam đã có sự cải thiện từ vị trí 47 năm 2001 lên vị trí 43 năm 2003, nhưng vẫn đứng sau Singapore (hạng 3), Trung Quốc (hạng 21), Malaysia (hạng 22) và Thái Lan (hạng 24). Nguyên nhân chính của sự tụt hậu này xuất phát từ trình độ quản trị rủi ro chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn cao do lịch sử bao cấp tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước và sự thiếu hụt đội ngũ nhân sự quản lý cấp cao có kỹ năng chuyên sâu.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đã thiết lập các hàng rào kỹ thuật thận trọng rất hiệu quả: yêu cầu chi nhánh ngân hàng nước ngoài duy trì vốn lưu động 100 triệu Nhân dân tệ và khống chế trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ dưới 3 triệu USD để bảo vệ ngân hàng nội địa. Ngược lại, Campuchia mở cửa với tốc độ nhanh khiến hệ thống tài chính chịu sự chi phối lớn của dòng vốn ngoại. Tại Việt Nam, xu hướng quốc tế hóa bắt đầu thể hiện rõ qua việc các định chế lớn mua cổ phần chiến lược, điển hình như ANZ đầu tư vào Sacombank và Standard Chartered mua cổ phần ACB vào đầu năm 2005.

Dữ liệu nghiên cứu về sự thay đổi hành vi khách hàng có thể được tổng hợp trực quan qua biểu đồ cơ cấu thị phần tín dụng và bảng phân tích bảng cân đối tài sản. Kết quả khảo sát cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến khách hàng doanh nghiệp và cá nhân chuyển sang gửi tiền hoặc vay ngoại tệ tại ngân hàng nước ngoài là do công nghệ thanh toán quốc tế vượt trội, thời gian xử lý hồ sơ minh bạch và chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp. Điều này khẳng định rằng cạnh tranh ngân hàng thời kỳ hậu WTO không chỉ nằm ở quy mô mạng lưới vật lý mà chuyển dịch sang chất lượng phục vụ và hàm lượng công nghệ trong từng sản phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường năng lực tài chính và mở rộng quy mô vốn tự có. Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các NHTMQD và phát hành thêm cổ phần cho khối NHTMCP; nâng vốn điều lệ toàn hệ thống nhằm đảm bảo 100% các ngân hàng thương mại đạt hệ số an toàn vốn CAR tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn Basel trước năm 2010. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo và Hội đồng quản trị các ngân hàng thương mại triển khai.

Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ và chuẩn hóa quy trình giao dịch một cửa. Hoàn thiện kết nối liên thông toàn bộ mạng lưới ATM và cổng thanh toán liên ngân hàng quốc gia; ứng dụng triệt để nền tảng ngân hàng lõi (Core Banking) và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử (Internet Banking, Phone Banking); cắt giảm thời gian giao dịch tại quầy xuống dưới 5 phút cho một giao dịch cơ bản trước năm 2008. Chủ thể thực hiện: Khối Công nghệ thông tin và Trung tâm Thanh toán của các ngân hàng thương mại.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị rủi ro. Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và phân loại nợ trích lập dự phòng theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS); xóa bỏ triệt để việc can thiệp hành chính vào quy trình xét duyệt tín dụng; tổ chức đào tạo lại nghiệp vụ cho cán bộ giao dịch, đảm bảo trên 70% nhân sự quản lý cấp trung đạt chứng chỉ tài chính chuẩn quốc tế trong giai đoạn 2007 - 2010. Chủ thể thực hiện: Ban Điều hành các ngân hàng thương mại phối hợp cùng các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế pháp lý và chính sách quản lý vĩ mô. Ban hành khung pháp lý đồng bộ điều chỉnh các sản phẩm tài chính phái sinh (hợp đồng tương lai, quyền chọn, hoán đổi SWAP) và dịch vụ ngân hàng qua biên giới; áp dụng linh hoạt các biện pháp an toàn thận trọng tương tự kinh nghiệm Trung Quốc để tạo khoảng đệm thích ứng cho ngân hàng nội địa đến mốc dỡ bỏ hoàn toàn hạn chế vào năm 2011 theo cam kết WTO. Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp). Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để hoạch định chính sách tiền tệ gián tiếp, xây dựng lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính hợp lý và thiết lập hệ thống giám sát an toàn vi mô, vĩ mô.

Nhóm 2: Ban lãnh đạo và cán bộ chiến lược tại các ngân hàng thương mại. Tài liệu hỗ trợ các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn trong quy trình tác nghiệp, vận dụng mô hình Diamond và ma trận SWOT để tái cơ cấu mạng lưới chi nhánh, nâng cao chỉ số thỏa mãn của khách hàng và định vị thương hiệu.

Nhóm 3: Các nhà đầu tư tài chính, quỹ đầu tư và tổ chức tín dụng quốc tế. Báo cáo phác thảo bức tranh toàn cảnh về thị trường ngân hàng Việt Nam, cấu trúc thị phần và tiềm năng hợp tác chiến lược thông qua hình thức góp vốn mua cổ phần tại các ngân hàng thương mại cổ phần tiềm năng.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định tính, mô hình lý thuyết kinh tế cạnh tranh và kỹ thuật khảo sát thực địa trong phân tích ngành.

Câu hỏi thường gặp

Tự do hóa tài chính tác động trực tiếp như thế nào đến thị phần của các ngân hàng thương mại trong nước? Tự do hóa tài chính xóa bỏ dần sự bảo hộ hành chính, cho phép các ngân hàng nước ngoài mở rộng huy động vốn nội tệ và lập chi nhánh. Thị phần huy động vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh vốn chiếm hơn 77% sẽ bị chia sẻ mạnh mẽ khi các ngân hàng ngoại khai thác phân khúc khách hàng cao cấp và doanh nghiệp đa quốc gia nhờ công nghệ hiện đại và dịch vụ vượt trội.

Tại sao hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng thương mại Việt Nam lại ở mức thấp trong giai đoạn nghiên cứu? Hệ số CAR của phần lớn ngân hàng chỉ đạt khoảng 4% do tốc độ tăng trưởng tín dụng diễn ra quá nóng trong khi tốc độ bổ sung vốn tự có không theo kịp. Nguồn vốn điều lệ bình quân chỉ từ 20 triệu đến vài trăm triệu USD, lại chịu áp lực xử lý nợ tồn đọng từ các doanh nghiệp nhà nước, khiến quy mô vốn chủ sở hữu không đủ tạo đệm an toàn theo chuẩn quốc tế 8%.

Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc khi gia nhập WTO có ý nghĩa gì đối với Việt Nam? Trung Quốc đã vận dụng xuất sắc quy định về các biện pháp an toàn thận trọng của WTO để bảo hộ thị trường nội địa. Việc đặt ra yêu cầu vốn lưu động 100 triệu Nhân dân tệ cho chi nhánh ngân hàng ngoại và kiểm soát trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ dưới 3 triệu USD đã giúp các ngân hàng nội địa có thêm 5 năm chuyển tiếp để tái cấu trúc và củng cố thị phần.

Hạn chế lớn nhất trong quy trình phục vụ của các ngân hàng thương mại nội địa là gì? Quy trình giao dịch còn mang nặng tính thủ tục giấy tờ và phân tán nhiều tầng nấc. Khách hàng phải di chuyển qua nhiều quầy giao dịch độc lập để hoàn tất một chứng từ nộp hoặc rút tiền. Mô hình giao dịch một cửa điện tử chưa được tối ưu hóa đồng bộ trên nền tảng công nghệ lõi khiến thời gian chờ đợi kéo dài và giảm mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng.

Việc bán cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài mang lại lợi ích gì cho các ngân hàng cổ phần Việt Nam? Việc thu hút các đối tác quốc tế như trường hợp ANZ đầu tư vào Sacombank hay Standard Chartered mua cổ phần ACB năm 2005 giúp các ngân hàng nội địa tăng nhanh quy mô vốn điều lệ gấp 3,5 lần, tiếp nhận chuyển giao công nghệ ngân hàng hiện đại, chuẩn hóa quy trình quản trị rủi ro và nâng cao uy tín thương hiệu trên thị trường tài chính quốc tế.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện phân tích chuyên sâu và đưa ra các kết luận cốt lõi sau:

  • Khẳng định năng lực phục vụ là yếu tố sống còn quyết định năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa tài chính.
  • Chỉ rõ thực trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa thị phần huy động (khối quốc doanh chiếm trên 77%) với năng lực an toàn vốn (hệ số CAR bình quân chỉ đạt xấp xỉ 4%).
  • Xác định đổi mới công nghệ và chuẩn hóa mô hình giao dịch một cửa là đòn bẩy trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn về chất lượng phục vụ khách hàng.
  • Đề xuất vận dụng linh hoạt các rào cản kỹ thuật thận trọng theo thông lệ WTO dựa trên bài học thực tiễn của Trung Quốc nhằm bảo vệ an toàn hệ thống.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đa tầng kết hợp giữa tăng vốn, tái cơ cấu quản trị nội bộ và hoàn thiện khung pháp lý theo lộ trình mở cửa đồng bộ đến năm 2011.

Đóng góp chính của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực phục vụ ngân hàng và cung cấp bức tranh thực nghiệm xác thực tại Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ trong giai đoạn bước ngoặt hội nhập. Bước tiếp theo, ngành ngân hàng cần khẩn trương hoàn thành cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước và áp dụng chuẩn mực kế toán IAS trong giai đoạn 2008 - 2012. Các nhà nghiên cứu và lãnh đạo tổ chức tín dụng cần tiếp tục đẩy mạnh các mô hình đo lường định lượng chuyên sâu để tối ưu hóa năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính Việt Nam trên trường quốc tế.