CHƯƠNG 1: NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH QUỐC TẾ 1. Ngành ngân hàng Việt Nam: 1. Quá trình hình thành và phát triển: Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể được chia làm 4 thời kỳ như sau: ¾ Thời kỳ 1951 - 1954: Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện chức năng chủ yếu là: Phát hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá,.
¾ Thời kỳ 1955 - 1975: Đây là thời kỳ cả nước vừa kháng chiến chống Mỹ vừa xây dựng đất nước. Hệ thống ngân hàng chỉ gồm một ngân hàng là Ngân hàng Quốc Gia ¾ Thời kỳ 1975 - 1985: Đây là giai đọan tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ở miền Nam) đã được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước. Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường.
Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ¾ Thời kỳ 1986 đến nay: Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số "cột mốc" có tính đột phá sau đây: - Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) vào tháng 5/1990. Đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp với chức năng và mục tiêu họat động của phân biệt rạch ròi.
Pháp lệnh ngân hàng ra đời được xem như là sự “giải tỏa” cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Và là đòn bẩy quan trọng giúp hệ thống ngân hàng phát triển nhanh, mạnh theo hướng kinh tế thị trường khi cho phép các thành phần kinh tế khác cùng tham gia kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng thông qua việc cấp phép thành lập các NHTMCP nhà nước và nhân dân, NHLD và Chi Nhánh NHNN. Chính nhờ sự thay đổi này mà trong thời gian từ 1991 đến 1995 hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có thêm 48 NHTMCP, 18 Chi Nhánh NHNNg và 4 NHLD. - Từ năm 1997 đến nay: Đến năm 1997, Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đã được nâng lên thành Luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng.
Theo đó, TCTD được phân thành hai loại hình là Ngân hàng và TCTD phi ngân hàng. Loại hình Ngân hàng bao gồm các dạng ngân hàng như NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Loại hình TCTD phi ngân hàng là các tổ chức được thực hiện kinh doanh thường xuyên một số hoạt động ngân hàng nhưng không được phép nhận tiền gởi không kỳ hạn và làm các dịch vụ thanh toán. TCTD phi ngân hàng bao gồm các Công ty Tài chính, Công ty cho thuê tài chính và các TCTD phi ngân hàng khác.
Cấu thành hệ thống ngân hàng Việt Nam: Từ một hệ thống ngân hàng độc quyền, ngành ngân hàng của Việt Nam đã chuyển mình và thay đổi theo hệ thống hai cấp, mà bước thay đổi đầu tiên được ghi nhận từ những năm 1990 là việc tách các chức năng kinh doanh thương mại 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Một số lớn những ngân hàng thương mại cổ phần đã được thành lập và sự hiện diện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh đã trở nên rõ ràng hơn trong thập kỷ qua. Sự hiện diện của các HTX tín dụng/ Quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính và cho thuê tài chính đã làm cho thị trường tài chính trong nước đa dạng hơn (xem bảng 1. Từ đó có thể thấy rằng ngành ngân hàng Việt Nam đang chuyển dần tới một hệ thống tương tự như hệ thống ngân hàng của các nền kinh tế đang nổi và mới phát triển.1: Ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Việt Nam Stt Các tổ chức tin dụng tại Việt Nam Số lượng 1 Ngân hàng Thương mại Quốc doanh 5 2 Ngân hàng Chính sách 1 3 Ngân hàng Phát triển Việt Nam 1 4 Ngân hàng Thương mại Cổ phần 35 5 Ngân hàng Liên doanh 5 6 Chi Nhánh Ngân hàng Nước ngoài 35 7 Công ty Tài chính 5 8 Công ty Cho thuê Tài chính 8 9 Quỹ Tín dụng Nhân dân 901 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Là ngân hàng của các ngân hàng. Có vai trò hoạch định các chiến lược tài chính - tiền tệ, giám sát hoạt động của các TCTD và diễn biến của thị trường tài chính – tiền tệ, kiểm soát lãi suất và lạm phát, điều hòa hợp lý nguồn vốn của nền kinh tế. NHNN được sự hổ trợ của các công cụ vi mô và vĩ mô như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, tỷ giá liên ngân hàng, tỷ lệ dao dộng,. và chính sách phát hành tiền.
NHNN là ngân hàng duy nhất có quyền phát hành tiền. Ngân hàng Nhà nước đã và sẽ không thực hiện chức năng kinh doanh cũng như không can thiệp vào hoạt động của các TCTD. Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng sẽ chỉ liên quan đến các nhóm NHTM trong nước và các ngân hàng nước ngoài. Việc so sánh hai nhóm ngân hàng này về sức mạnh tài chính, công 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ và quản trị ngân hàng sẽ phần nào đánh giá được năng lực phục vụ của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam.
Nhóm Ngân hàng Thương mại Việt Nam: Nhóm ngân hàng Việt Nam bao gồm năm ngân hàng thương mại quốc doanh, một ngân hàng chính sách, một ngân hàng phát triển và 35 ngân hàng thương mại cổ phần. Các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện thống trị thị trường tiền gửi và cho vay với thị phần tương đối lớn (xem bảng 1. Điều này có được nhờ những lợi thế sẵn có với vai trò là ngân hàng trong nước bởi nhóm ngân hàng này không phải chịu những hạn chế về quy mô hoạt động hay số lượng các chi nhánh trong một khu vực. Trong khi những ngân hàng nước ngoài lại gặp phải một số hạn chế khi nhận tiền gửi tại thị trường trong nước.
Ngoài ra, một số lượng lớn các khách hàng truyền thống là các doanh nghiệp Nhà nước đã tạo thêm sức mạnh cho nhóm ngân hàng này.2: Thị phần của các ngân hàng Thương mại Việt Nam Đơn vị: % Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Thị phần của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc huy động vốn Ngân hàng Thương mại Quốc doanh 77 80.6 Ngân hàng Cổ phần 11.8 Thị phần của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc cho vay Ngân hàng Thương mại Quốc doanh 76.5 Ngân hàng Cổ phần 9.2 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thị phần của các NHTM Việt Nam phân cực rất lớn. Năm ngân hàng thương mại quốc doanh với lợi thế ra đời sớm và phân khúc khách hàng với đối tượng là các doanh nghiệp lớn đã chiếm thị phần áp đảo. Các NHTM Cổ phần tập trung nhiều vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Điều này thể hiện sự năng động của các NHTMCP, được minh chứng bằng thị phần của khối ngân hàng này tăng dần qua các năm.
Ngân hàng Chính sách có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho vùng nông thôn, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng kém phát triển, hỗ trợ cho phát triển nguồn nhân lực 1. Ngân hàng Phát triển được thành lập theo thỏa thuận đàm phán gia nhập WTO, với vai trò giúp chính phủ Việt Nam quản lý các nguồn vốn đầu tư, viện trợ từ nước ngoài 2. Về sức mạnh tài chính, mặc dù gần đây đã có những cải thiện đáng kể về lượng vốn của các tổ chức tín dụng Việt Nam, nhóm này vẫn bị coi là yếu về tài chính. Trong giai đoạn 4 năm vừa qua, tổng vốn điều lệ của nhóm này đã tăng lên 3,5 lần từ 6.000 tỉ đồng vào năm 2001 lên tới 21.000 tỉ đồng vào năm 2004.
Tuy nhiên, mức vốn điều lệ trung bình của cả ngân hàng TMQD và ngân hàng TMCP vẫn thấp, từ khoảng 20 cho đến vài trăm triệu USD. Những con số này không chỉ khiêm tốn khi so với các ngân hàng nước ngoài mà còn làm hạn chế khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam bởi vì mức quy định trần 15% của Luật các Tổ chức Tín dụng (các tổ chức tín dụng không được phép cho vay quá 15% vốn điều lệ cho một khách hàng). Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng thương mại vẫn thấp hơn mức tiêu chuẩn 8% của thế giới 3. Điều này đã hạn chế các ngân hàng nâng cấp công nghệ và giới thiệu những dịch vụ mới như ngân hàng điện tử, ATM, vốn là những dịch vụ đòi hỏi phải đầu tư đáng kể.
Về công nghệ thông tin, khối ngân hàng Việt Nam nhận thức rất rõ vai trò quan trọng của công nghệ thông tin. Đề án “Hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán” của các NHQD, các ngân hàng TMCP chi phí hàng triệu đô la Mỹ để đầu tư cho công nghệ là một minh chứng.