Chương I. Cơ sơ lí luận và thực tiễn về Kiểm tra –Đánh giá 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương II. Xây dựng bộ công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật Lí lớp 12 (Học kỳ I) THPT Chương III. Thử nghiệm và phân tích kết quả Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Đo lường và đánh giá trong giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá (thí sinh). Đo lường trong giáo dục có một bộ phận liên quan chặt chẽ với đo lường trong tâm lý (tâm trắc học - Psychometrics).
Khoa học đo lường trong giáo dục có thể xem như bắt đầu cách đây khoảng một thế kỷ. Ở cuối thế kỉ XIX, thuật ngữ TNKQ đã xuất hiện trong tâm lí học, tác giả J.Cattell trong bài báo”Trí khôn và cách đo trí khôn”(1890), sau đó là tác giả khác như: F.Galton, Ebbling haus. Sang đầu thế kỉ XX, E. Ở châu Âu và đặc biệt là ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ trước và sau thế chiến thứ hai với vài dấu mốc quan trọng như: Trắc nghiệm trí tuệ Stanford - Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào 1923.
Cho đến 1953 việc chấm bài trắc nghiệm đã được thực hiện bằng máy của IBM, kế đến là việc thành lập National Council on Measurement in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, sau đó là American Testing Service (ACT) [21]. T đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục vẫn tồn tại, phát triển như là tất yếu của sự phát triển giáo dục với những cải tiến liên tục không ng ng để ngày một hoàn thiện hơn cả về lý luận và thực tiễn. Bên cạnh sự phát triển của công nghệ tính toán, các lý thuyết về đo lường trong giáo dục cũng phát triển rất nhanh bao gồm Lý thuyết Trắc nghiệm cổ điển (Classical Test theory - CTT), Lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi (Item Response Theory - IRT), trong đó điển hình là mô hình Rasch. Các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý thuyết này phát triển t chính các nhu cầu của việc đo lường trong giáo dục.
Sự ra đời của các lý thuyết này đã đánh dấu những thành tựu quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm, là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu các phản ứng của con người trong các khoa học hành vi. Ở các nước phát triển, các công ty trắc nghiệm ETS, ACT áp dụng IRT cho các kỳ thi quan trọng để có kết quả xét tuyển vào đại học (SAT, ACT), sau đại học (GRE, GMAT…), tuyển dụng giáo viên (NTE); Viện Ý kiến công chúng Mỹ Gallup thiết kế các bản hỏi dùng để thăm dò ý kiến công chúng; các doanh nghiệp thiết kế công cụ để thăm dò ý kiến khách hàng v. Ở Mỹ, Đo lường và đánh giá thực sự trở thành một ngành công nghiệp lớn. Ở Việt Nam Khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục ở nước ta trước đây trong tình trạng khá lạc hậu và chậm phát triển.
Trước năm 1975, ở Miền Nam chỉ có một vài cá nhân được đào tạo về khoa học này t các nước phương Tây. Trong số đó, điển hình có giáo sư Dương Thiệu Tống (1925- 2008) là người đã đưa lý thuyết testing ứng dụng vào ngành giáo dục Việt Nam nhưng không thành công. Sau đó ông chỉ áp dụng ngân hàng câu hỏi vào việc thi KTĐG và đặc biệt áp dụng vào việc thi tuyển sinh đại học. Trường Đại học áp dụng mô hình thi trắc nghiệm đầu tiên ở nước ta là trường Đại học Đà Lạt.
Vào năm 1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ. Vào những năm sau 1975, ở miền Bắc cũng có một số cán bộ nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý. Đến năm 1993, Bộ GD & ĐT đã mời một số chuyên gia nước ngoài để phổ biến về khoa học này, đồng thời cử cán bộ ra nước ngoài học tập. T đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi.
Kỳ thi tuyển đại học thí điểm được tổ chức tại trường Đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ. Kỳ thi này có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TNKQ và trắc nghiệm tự luân (TNTL) được sử dụng để thí sinh tự chọn. Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề TNKQ, bài thi được chấm bằng máy Opscan-7, trong khoảng 60 trường hợp vi phạm kỷ luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh t nhóm làm đề TNKQ. [21] T sau năm 1997, các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục ở các trường đại học lắng xuống.
Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức kỳ thi tuyển đại học “3 chung”. Đến năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập “Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng” để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học,dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi tuyển đại học cho môn Tiếng Anh vào mùa thi 2005-2006. Bắt đầu t năm học 2006 – 2007, song song với việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, Bộ GD&ĐT đã có chủ trương đổi mới quá trình KT- ĐG kết quả học tập của người học. Trong những năm qua, Bộ giáo dục đã cố gắng chỉ đạo, triển khai đánh giá tiêu chuẩn hóa quy mô lớn với học sinh lớp 5 (2007 và 2011), lớp 6 và lớp 9 (2009) và tham gia Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) do OECD đề xuất cùng 67 nước và vùng lãnh thổ trong năm 2012.
Bộ cũng đã chỉ đạo triển khai một số hoạt động đánh giá kết quả học tập ở các trường phổ thông, củng cố môn học độc lập về đánh giá kết quả học tập trong các trường Sư phạm [21]. Hiện nay, một vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm của dư luận cũng như giới học thuật đó chính là vấn đề thay đổi như thế nào để có một kỳ thi THPT quốc gia đảm bảo tính khách quan, trung thực, ít tốn kém, giảm áp lực lên xã hội nhưng vẫn đảm bảo đánh giá đúng năng lực người học. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết về đánh giá kết quả học tập 1.
Kiểm tra Theo t điển Giáo dục học, thuật ngữ Kiểm tra được định nghĩa “Là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy- học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy- học”. [13] Theo t điển tiếng Việt, thuật ngữ kiểm tra được định nghĩa “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. [17] Như vậy trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, đồng thời có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy-học. Đo lường trong tiếng Anh (Measurement) là một khái niệm chuyên dùng để chỉ sự so sánh một vật hay hiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng.
Nói cách khác đo lường là một cách lượng giá với mục đích gán con số hoặc thứ bậc cho đối tượng đo (nghiên cứu) theo một hệ thống quy tắc hay chuẩn mực nào đó. Trong lĩnh vực giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về đo lường. Trong đó có hai định nghĩa sử dung nhận rộng rãi - Theo Allen M. (1979): “Đo lường là gán các con số vào các cá thể theo một quy tắc có hệ thống để biểu diễn các đặc tính của các cá thể đó” 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Benjamin Wright (1979) cho rằng: “Một số đo là một vị trí trên một đo lường.
Đo lường là quá trình cấu trúc các đường và định vị các cá thể trên các đo lường Hai định nhĩa trên đều có một ý nghĩa chung là đo lường gán các con số vào cá thể theo một nguyên tắc nào đó [21]. Các con số có thể được sử dụng trong đo lường theo các thang đo, các loại thang đo có vai trò cực kỳ quan trọng. Đánh giá (Assesssment) Luận thuyết đánh giá trong giáo dục hình thành trong giai đoạn đầu những năm 40 của thế kỷ XX. Tyle đã giải thích về đánh giá trong giáo dục như sau: “Đánh giá giáo dục là quá trình xác định mục đích rõ mục tiêu giáo dục dựa trên thực thế đã được thực hiện đến mức độ nào đó”.
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, Klobathe đã trình bày những quan điểm về đánh giá dựa trên cơ sở phá vỡ các môn thức về mục tiêu hành vi: “Đánh giá là một quá trình cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách”. Về sau người ta luận giải giải thích rõ hơn về luận điểm trên: “Đánh giá giáo dục là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách có hệ thống nhằm mục đích giúp đỡ người hoạch định chính sách lựa chọn được một phương án khả thi để tiến hành công việc của mình”. [12] Như vậy, quan điểm của Klobathe nhấn mạnh đến vai trò của thông tin trong đánh giá giáo dụ, mở rộng phạm vi, chức năng của đánh giá, đồng thời giải thích sự sáng tạo của đánh giá ở tầm vĩ mô. Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay kết quả học tập.
Đánh giá có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị.