CHƯƠNG I. CƠ S LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHI N CỨU 1. Lý t uyết về ểm tr đá á ết quả tập 1. Một số hái niệm 1111 i mt Theo từ điển Giáo dục học, thuật ngữ kiểm tra được định nghĩa “ Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biên pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy – học [3].
Nguyễn Bá Kim cho rằng “Kiểm tra nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả dạy học, trước hết là về tri thức và kỹ năng của từng học sinh nhưng cũng lưu ý cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ cùng với sự diễn biến của quá trình dạy học. Như vậy trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã đạt được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và l thái độ ứng xử ra sao, đồng thời có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy – học. 1112 ánh giá Theo Ralpha Tyler nhà giáo dục và tâm lý học nổi tiếng của Mỹ đã định nghĩa “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong quá trình dạy học. Tác giả Nguyễn Bá Kim thì cho rằng “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào những thông tin thu được, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuấn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa khác về đánh giá, nhưng hầu hết các định nghĩa đều cho rằng Đánh giá là một quá trình được tiến hành có hệ thống để xác 5 z định mứ đ đạt đ ợ mục tiêu đào tạo của học sinh. Nó có thể bao gồm những sự liệt kê, mô tả về mặt định tính hay định lượng những hành vi (kiến thức, kỹ năng, thái độ) của người học ở thời điểm hiện tại đối chiếu với những tiêu chí và mục đích mong muốn, nhằm có quyết định thích hợp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học. Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có thứ tự và đan xen nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giá dục để đối chiếu với mục tiêu: “Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kiểm tra là để đánh giá, đánh giá dựa trên cơ sở của kiểm tra [11].
Trong thực tế, có thể tiến hành thu thập các thông tin nhưng không đánh giá. Nhưng để đánh giá được phải tiến hành kiểm tra, thông qua kiểm tra mới có thể đánh giá và đánh giá chính là kết quả của kiểm tra. Kiểm tra luôn gắn liền với đánh giá, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. 111 ánh giá t h t h inh Theo GS.TS Nguyễn Đức Chính thì “Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó [7].
Vậy, kết quả học tập có thể được hiểu theo hai cách tùy theo mục đích của việc đánh giá Kết quả học tập được coi là mức độ thành công trong học tập của học sinh, được xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, chuẩn kiến thức và kỹ năng cần đạt được và thời gian bỏ ra. Kết quả học tập cũng được coi là mức độ thành tích đã đạt được của một học sinh so với các bạn cùng học. Như vậy, Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, xử lý thông tin và trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn. M c ch it c ánh giá ết uả h c t p Đố v s : việc đánh giá kết quả học tập cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân, để họ điều chỉnh quá trình học tập.
Nếu việc đánh giá được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của bản thân, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực cần thiết đối với quá trình học tập của học sinh không chỉ là khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời của một con người. Đố v á v ê : việc đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ cung cấp cho giáo viên những thông tin cần thiết về Trình độ và kết quả học tập của lớp cũng như của từng học sinh. Phát hiện kịp thời những sai lầm điển hình của học sinh và những nguyên nhân của những sai lầm, để từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động học của học sinh. Giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, để từ đó tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy của bản thân, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Phân loại các m c tiêu giáo d c à các mức ộ nh n thức 1. Phân loại á mụ tiê giáo dụ Tại hội nghị của Hội Tâm lý học Mỹ năm 1948, B.S Bloom đã chủ trì xây dựng một hệ thống phân loại các mục tiêu của quá trình giáo dục. Ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục đã được xác định, đó là lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực hành động, lĩnh vực về cảm xúc. Ba lĩnh vực trên không hoàn toàn tách biệt hoặc loại trừ lẫn nhau.
Phần lớn việc phát triển tâm lý đều bao gồm cả ba lĩnh vực trên. Mục tiêu giáo dục là những gì học sinh cần đạt được sau khi học xong môn học, bao gồm + Hệ thống kiến thức khoa học bao gồm cả phương pháp nhận thức chung. + Hệ thống các kỹ năng. + Khả năng vận dụng vào thực tế.
+ Thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội. 7 z 11 2 Cá mứ độ nh n thứ Về lĩnh vực nhận thức, cũng tại hội nghị của Hội Tâm lý học Mỹ năm 1948, B.S Bloom cùng với những người cộng tác của ông đã phân chia thành các mức độ từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau Bảng 1. Bảng các mức nh n thức theo u n niệm c Bloom (1948) Cá mứ N u ủ á mứ N ậ t ứ Đánh giá Phán xét, phê phán, so sánh, phân biệt, biện luận, đưa ra kết luận, hỗ trợ. Tổng hợp Kết hợp, sáng tạo, công thức hóa, thiết kế, sáng tác, xây dựng, sắp xếp lại, sửa chữa.
Phân tích Phân biệt, biểu đồ hóa, ước lượng, phân chia, suy luận, sắp xếp trật tự, chia nhỏ ra. Áp dụng Trình diễn, tính toán, giải quyết, điều chỉnh nhỏ, sắp xếp đơn giản, thao tác, liên hệ. Hiểu Phân loại, giải thích, tổng hợp lại, biến đổi, dự đoán, phân biệt sự khác nhau giữa hai sự vật hiện tượng hay vấn đề. Nhận biết Định dạng, gọi tên, xác định, mô tả, liệt kê, kết N ậ t ứ t p nối, lựa chọn, phác thảo.
Các mức độ nhận thức này chính là cơ sở khoa học để xác định mục tiêu trong dạy học, tiêu chí trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Quy t ình iểm t ánh giá ết uả h c t p Theo lý thuyết đánh giá, để một hoạt động kiểm tra đánh giá đảm bảo các yêu cầu quy chuẩn, khách quan, xác thực và toàn diện, cần tuần thủ nghiêm túc các giai đoạn sau 8 z Bảng 1. Quy t ình iểm t ánh giá ết uả h c t p 1 2 3 4 5 6 7 8 Xác Lựa chọn Phân Thiết Viết lựa Phân Tổ Phân định các hình tích nội lập dàn chọn tích câu chức tích, mục thức, dung, bài thi câu hỏi hỏi, đề thi, ghi đích phương xác kiểm chép, đánh pháp định tra lưu giữ, giá tiêu chí công bố 1 Xá đị mụ đí đá á. Đây là yếu tố đầu tiên mà người giáo viên phải xác định trước khi tiến hành một hoạt động đánh giá nào đó.
Đánh giá được tiến hành ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình dạy học. mỗi thời điểm, đánh giá có mục đích riêng: + Đánh giá “khởi sự (Placement Evaluation) nhằm khảo sát kiến thức đã có của người học trước khi bắt đầu giảng dạy một môn học. Câu hỏi đặt ra là người học đã có những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tiếp thu nội dung giảng dạy mới chưa? Họ có thể gặp khó khăn gì trong quá trình học tập sắp tới. + Đánh giá theo tiến trình (Đánh giá hình thành – Formative Evaluation) được dùng để theo dõi sự tiến bộ của người học, nhằm đánh giá mức độ đạt các mục tiêu trung gian, cung cấp các thông tin phản hồi để giúp người dạy – người học điều chỉnh hoạt động của mình để đạt mục tiêu cuối cùng.
+ Đánh giá chuẩn đoán (Diagnostic Evaluation) nhằm phán đoán, dự báo những khó khăn mà người học có thể gặp phải, phát hiện nguyên nhân của các lỗi thường gặp và lặp đi lặp lại để tìm cách khắc phục. + Đánh giá tổng kết (Summative Evaluation) thường được tiến hành vào cuối kỳ giảng dạy 1 khóa học, một môn học, một đơn vị học tập nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu học tập và thường được dùng để có các quyết định quản lý phù hợp, như lên lớp, thi lại. Kết quả của đánh giá tổng kết cũng cung cấp các thông tin cần thiết để cải tiến chương trình đào tạo cũng như hiệu quả của việc dạy – học. 9 z Như vậy, đánh giá có nhiều mục đích và người giáo viên phải xác định rõ mục đích của mình mới soạn được các đề kiểm tra đánh giá có giá trị, vì chính mục đích chi phối chuẩn đánh giá, nội dung, hình thức của bài thi.