Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đánh giá năng lực giải vấn đề của học sinh trong dạy học Vật lí. Chương 2: Xây dựng công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chƣơng “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12. Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong cuốn sách “Prolem solving” của Ian Robertson [25] nêu ra các vấn đề quan trọng liên quan đến cách GQVĐ, là làm thế nào để tạo đƣợc tình huống có vấn đề, giải pháp để giải quyết các vấn đề; mức độ mà thông tin kỹ năng học đƣợc trong các tình huống đó, có thể chuyển giao đến các tình huống khác liên quan, đến vai trò logic trong sự tƣ duy. Cũng nhƣ các nhà khoa học nhƣ: B. Wolf,…, thuộc các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến nhƣ Anh, Phần Lan, Australia, Canađa,… quan tâm nghiên cứu về ĐG năng lực. Trong những năm đầu đầu của thế kỷ 21, có nhiều quốc gia trong tổ chức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đã thực hiện chƣơng trình ĐG Quốc tế PISA (Programme for International Student Assessment) cho HS phổ thông ở lứa tuổi 15.
Thay cho việc kiểm tra nội dung kiến thức chƣơng trình các môn học trong trƣờng phổ thông thì PISA tập trung vào đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống đặt ra trong thực tiễn. Ở Việt Nam, từ tháng 3 năm 2010 đã chính thức triển khai hoạt động PISA, kết quả đạt đƣợc của chúng ta khá bất ngờ, vƣợt lên đƣờng trung bình của thế giới, nhƣng còn nhiều khía cạnh yếu nhƣ kỹ năng thực hành, kỹ năng sống, NL GQVĐ. Ở Việt Nam, Đề án “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD và Đào tạo đã chỉ rõ định hƣớng đổi mới chƣơng trình, sách giáo khoa là: Tiếp cận theo hƣớng phát triển NL ngƣời học, xuất phát từ các NL mà mỗi HS cần có trong cuộc sống nhƣ: NL nhận thức, NL hành động, NL GQVĐ, NL sáng tạo, NL làm việc nhóm, NL thích ứng với môi trƣờng. Do đó các phƣơng pháp KTĐG cũng cần thay đổi theo hƣớng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiếp cận NL.
Các tác giả có sự đóng góp lớn, nghiên cứu về KTĐG trong GD ở Việt Nam phải kể đến Nguyễn Công Khanh, “Đổi mới kiểm tra – đánh giá học sinh phổ thông theo cách tiếp cận năng lực” [12];Dƣơng Thiệu Tống, “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập” [19]; Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” [10]; Trần Kiều, “Phương thức và công cụ đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông” [14];. Chƣơng trình GD của Việt Nam đang chuyển từ xây dựng theo tiếp cận nội dung sang dạy học tiếp cận NL; đó là việc chuyển từ dạy học mang nặng về trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng sang chú trọng đến rèn luyện năng lực cho ngƣời học. Để đáp ứng nguyện vọng đổi mới giáo dục, tăng cƣờng tính tích cực hiệu quả của dạy học, đồng thời nêu cao tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá năng lực ngƣời học đã có nhiều công trình nghiên cụ thể nhƣ: Phan Anh Tài, “Đánh giá NLGQVĐ của học sinh trong dạy học Toán lớp 11 trung học phổ thông”[17]; Bùi Hạnh Lâm, “Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông” [6]; Nguyễn Thị Loan, “Đánh giá NLGQVĐ của học sinh trong dạy học chương “Lượng tử ánh sáng” [7];. Một số công trình nghiên cứu về bồi dƣỡng, rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề nhƣ: Nguyễn Đức Phúc, “Bồi dưỡng năng lực giải bài tập Vật lý định tính trên cơ sở vận dụng các yếu tố dạy học và giải quyết vấn đề cho học sinh THPT miền núi” [16]; Nguyễn Thị Hải Yến, “Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 12” [22];… Tuy nhiên đến nay, việc đánh giá kết quả học tập của HS theo hƣớng tiếp cận NL nói chung và ĐG NL GQVĐ cho môn Vật lí nói riêng, cũng chỉ mới có những nghiên cứu ban đầu thể hiện qua một số bài viết; một số tài liệu tập huấn, một số luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học nhƣ một số tác giả nhƣ: Lê Thị Thu Hiền đã xây dựng bộ công cụ“Đánh giá NLGQVĐ của học sinh trong dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông” [5]; Nguyễn Thị Thảo đã 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu " Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương "Quang hình" - Vật lí 11" [18].
Năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí 1. Năng lực Quan điểm về năng lực của học sinh ở THPT, theo PGS. Nguyễn Công Khanh (2012), năng lực của ngƣời học là khả năng làm chủ kiến thức, kỹ năng, thái độ. phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính HS trong cuộc sống.
Năng lực của HS là một cấu trúc động, có tính chất mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng. mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội. thể hiện tính sẵn sàng hành động của HS trong môi trƣờng học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội [13]. Năng lực là những phẩm chất quá trình của hoạt động tâm lí, tƣơng đối ổn định và khái quát của nhân cách nhờ đó con ngƣời giải quyết đƣợc ở mức này hay mức khác một hay nhiều yêu cầu khác nhau.
Năng lực biểu lộ ở tính nhanh, tính dễ dàng, chất lƣợng tiếp nhận và thực hiện hoạt động, ở bề rộng của di chuyển, tính sáng tạo, tính độc đáo của hoạt động và của kết quả hoạt động giải quyết những yêu cầu mới. Đồng thời NL còn liên quan đến khả năng phán đoán, nhận thức, hứng thú và tình cảm.Nhƣ vậy, từ những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cho ta một cái nhìn toàn diện và hệ thống về nội hàm của khái niệm “Năng lực của mỗi người là tổ hợp đặc điểm tâm lí cá nhân thể hiện trong một hoạt động nào đó đáp ứng yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ đặt ra” Theo lí thuyết thích nghi của Piaget, những phẩm chất mới của con ngƣời đƣợc phát triển qua các giai đoạn: Mất cân bằng – điều ứng – đồng hóa – thích nghi – lập lại cân bằng ở trình độ cao hơn. Cũng theo lí thuyết về vùng phát triển gần của của Vƣgốtsxki, chỗ tốt nhất để phát triển tâm lí là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vùng phát triển gần, đó là vùng nằm giữa khả năng đang có và nhiệm vụ mới phải thực hiện mà ta chƣa biết cách làm, nhƣng nếu có sự cố cá nhân và có sự giúp đỡ của những ngƣời có cùng trình độ hoặc có trình độ cao hơn thì cá nhân có thể tự lực thực hiện đƣợc [11] Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, các nhà nghiên cứu có các cách hiểu khái niệm năng lực khác nhau, từ các cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cho ta cái nhìn toàn diện và hệ thống về nội hàm của khái niệm “năng lực”. Tựu trung có thể quan niệm: Năng lực của mỗi người là tổ hợp đặc điểm tâm lí cá nhân thể hiện trong một hoạt động nào đó đáp ứng yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ đặt ra[13].
Nhƣ vậy, NL của mỗi ngƣời đƣợc hình thành và phát triển trong hoạt động và bộc lộ trong quá trình hoạt động nên NL có các dấu hiệu đƣợc thể hiện ở kiến thức, kĩ năng, thái độ có liên quan đến hoạt động. Nhờ các dấu hiệu này mà có thể nhận biết và đánh giá NL của mỗi ngƣời. Năng lực giải quyết vấn đề Vấn đề trong dạy học Vật lí là một bài toán hoặc một tình huống, một hiện tƣợng mà học sinh phải vận dụng kiến thức, kĩ năng, phƣơng pháp, kinh nghiệm để giải quyết giải quyết các mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề đó. Do vậy, vấn đề khó hay dễ sẽ phụ thuộc vào từng đối tƣợng học sinh.
Với cùng một bài toán hay tình huống đặt ra, đối với học sinh này có thể là vấn đề, nhƣng đối với học sinh khác có thể không phải là vấn đề. Năng lực giải quyết vấn đề đƣợc cấu trúc gồm 4 thành tố bao gồm: a, Phát hiện và làm rõ vấn đề:nhận biết vấn đề; xác định, giải thích các thông tin ban đầu và trung gian, tƣơng tác với vấn đề; chia sẻ sự am hiểu vấn đề với ngƣời khác. b, Đề xuất, lựa chọn giải pháp (Thiết lập không gian vấn đề): lựa chọn, sắp xếp, tích hợp thông tin với kiến thức đã học (lĩnh vực/môn học/chủ đề); xác định thông tin trung gian qua đồ thị, bảng biểu, mô tả.; xác định cách thức, quy trình, chiến lƣợc giải quyết; thống nhất cách hành động): 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c, Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp: thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập dữ liệu, thảo luận, xin ý kiến, giải quyết các mục tiêu, xem xét lại giải pháp.); thời điểm giải quyết từng mục tiêu; và phân bổ các nguồn lực (tài nguyên, nhân lực, kinh phí, phƣơng tiện. d, Đánh giá và phân tích hiệu quả giải pháp: đánh giá giải pháp đã thực hiện; phản ánh, suy ngẫm về giải pháp đã thực hiện; đánh giá, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu nhận đƣợc; đề xuất giải quyết cho những vấn đề tƣơng tự.
Khung năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Bảng 1. Kết quả đầu ra về NLGQVĐ của học sinh Thành tố NL Chỉ số hành vi Phân tích tình huống Phát hiện và làm rõ vấn đề Phát hiện vấn đề Biểu đạt vấn đề Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề Đề xuất và lựa chọn giải Đề xuất các giải pháp GQVĐ pháp Lực chọn giải pháp phù hợp Thực hiện giải pháp GQVĐ Thực hiện và đánh giá giải Đánh giá giải pháp pháp giải quyết vấn đề Nhận thức và vận dụng phƣơng pháp hành động vào bối cảnh mới 1.