phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hƣớng bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng chƣơng đại cƣơng kim loại hoá học lớp 12 trung học phổ thông Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin, khoa học phát triển nhƣ vũ bão đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi lớn đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trƣớc yêu cầu đổi mới của thời đại, đòi hỏi ngành giáo dục cũng phải đổi mới mục tiêu, phƣơng pháp dạy học để giải quyết vấn đề cấp bách đƣợc đặt ra. Từ thực tiễn giảng dạy, dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy hiện nay giáo viên đã và đang đổi mới phƣơng pháp dạy học thể hiện ở các khâu soạn bài và lên lớp.
Đổi mới phƣơng pháp dạy học bằng cách đặt câu hỏi hiện nay là một vấn đề hết sức quan trọng bởi tính đơn giản, hiệu quả và khả thi của nó. Điều cơ bản là giáo viên cần chuẩn bị cho mình bộ câu hỏi định hƣớng cho bài học để điều khiển hoạt động học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức và kĩ năng đã xác định. Nghiên cứu sử dụng câu hỏi trong dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu nhƣng còn mang tính đề xuất và dùng câu hỏi cho kiểm tra: - TS. Nguyễn Đình Chỉnh (1995), Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên đứng lớp, kiểm tra đánh giá việc học tập của học sinh, NXB Hà Nội.
- Debbie Caudau, Jennifer Dorherty, John Judge, Judi Yost, Paige Kuni (Viện công nghệ máy tính), Robert Hannafin (ĐH cộng đồng) Chương trình dạy học Intel Teach to the future. - Geoffrey Petty, Dạy học ngày nay, NXB Stanley Thomes. Lê Phƣớc Lộc (2005), Câu hỏi và việc sử dụng trong dạy học, Tạp chí nghiên cứu khoa học, Trƣờng đại học Cần Thơ. Trịnh Thị Hải Yến - Nguyễn Phƣơng Hồng (2003), Những giải pháp đổi mới phương pháp dạy học, Tạp chí giáo dục số 54.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đồng thời, có một số luận văn Thạc sĩ cũng đã nghiên cứu xây dựng bộ câu hỏi nhƣng đƣợc coi nhƣ một dạng bài tập dùng để kiểm tra đánh giá học sinh nhƣ các luận văn: - Lê Anh Quân (2005), Lựa chọn, xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập về phản ứng oxi hoá khử (Ban KHTN), Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. - Ngô Đức Thức (2002), Phát triển tư duy cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập hoá học các nguyên tố phi kim ở trường THPT, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Huế. - Vũ Hồng Nhung (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tƣ duy của học sinh 1. Chuẩn kiến thức, kĩ năng hoá học phổ thông [4] 1.
Khái niệm Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (có thể gọi chung là yêu cầu hoặc tiêu chí) tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đƣợc dùng để làm thƣớc đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó; đạt đƣợc những yêu cầu của Chuẩn là đạt đƣợc mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí hoạt động, công việc, sản phẩm đó. Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tƣờng minh, chuẩn Chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lƣợng. Yêu cầu có thể đƣợc đo thông qua chỉ số thực hiện. Trong chƣơng trình GDPT, chuẩn KT-KN đƣợc thể hiện, cụ thể hoá ở các chủ đề của chƣơng trình môn học, theo từng lớp học; đồng thời cũng đƣợc thể hiện ở phần cuối của chƣơng trình mỗi cấp học.
Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấp học đƣợc cụ thể hóa thành Chuẩn KT-KN của chƣơng trình môn học, chƣơng trình cấp học. Chuẩn KT-KN của Chƣơng trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chuẩn KT-KN của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc. Yêu cầu về KT-KN thể hiện mức độ cần đạt về KT-KN.
Mỗi yêu cầu về KT-KN có thể đƣợc chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cụ thể, tƣờng minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện đƣợc cả nội dung KT-KN và mức độ cần đạt về KT-KN. Chuẩn KT-KN của Chƣơng trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về KT-KN của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc sau từng giai đoạn học tập trong cấp học. Những yêu cầu cơ bản của chuẩn - Chuẩn phải có tính khách quan, không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của ngƣời sử dụng chuẩn; - Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng; - Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là chuẩn đó có thể đạt đƣợc; - Đảm bảo tính cụ thể, tƣờng minh và có tính định lƣợng. - Đảm bảo không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan 1.
Những đặc điểm của chuẩn kiến thức, kĩ năng Chuẩn KT – KN đƣợc chi tiết, tƣờng minh bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về kiến thức, kĩ năng. Chuẩn KT – KN có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc những yêu cầu cụ thể này. Chuẩn KT – KN là thành phần của chƣơng trình GDPT. Các mức độ về KT-KN KT-KN phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp; nội dung bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức.
Các mức độ về kiến thức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững, hiểu rõ các kiến thức cơ bản trong chƣơng trình, sách giáo khoa, đó là nền tảng vững vàng để có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn. Mức độ cần đạt đƣợc về kiến thức đƣợc xác định theo 6 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo - Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trƣớc đây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp. - Thông hiểu: Là khả năng nắm đƣợc, hiểu đƣợc ý nghĩa của các khái niệm, hiện tƣợng, sự vật; giải thích đƣợc, chứng minh đƣợc. Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu.
- Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phƣơng pháp, nguyên lý hay ý tƣởng để giải quyết một vấn đề nào đó. - Phân tích: Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu đƣợc cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. - Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác định đƣợc giá trị của một tƣ tƣởng, một nội dung kiến thức, một phƣơng pháp. - Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các nguốn tƣ liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.
Tuy nhiên, trong chƣơng trình GDPT, chủ yếu đề cập đến 3 mức độ đầu. Các mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trƣờng, năng lực sáng tạo của học sinh. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các mức độ về kỹ năng Về kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,.
Thông thƣờng kỹ năng đƣợc xác định theo 3 mức độ: - Thực hiện đƣợc - Thực hiện thành thạo - Thực hiện sáng tạo Tuy nhiên, trong chƣơng trình GDPT, chủ yếu đề cập đến 2 mức độ đầu; mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trƣờng, năng lực sáng tạo của HS. Câu hỏi và câu hỏi dạy học [15], [16],[18] 1. Câu hỏi Theo từ điển Tiếng việt (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội – 1992, trang 455), “Hỏi” tức là: Nói ra điều con ngƣời muốn ngƣời khác cho mình biết với yêu cầu đƣợc trả lời hoặc nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở ngƣời ta với yêu cầu đƣợc đáp ứng. Đại từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Câu hỏi là câu biểu thị sự cần thiết hoặc không rõ với những đặc trƣng của ngữ điệu và từ hỏi”.
Trang web về Từ điển Tiếng Việt http:// www.de /~duc/Dict/ thì “câu hỏi là câu đặt ra để yêu cầu ngƣời nghe trả lời”. Trên thế giới chắc không ai quên đƣợc Socrate ngày xƣa là ngƣời thuyết phục giỏi nhất thế giới. Ông đã bán rất chạy những ý kiến của mình cho đến ngày nay còn học hỏi ông. Bí quyết lớn nhất của ông là “đặt câu hỏi”.
Voltaire cũng đã nói: “Hãy xét ngƣời qua câu hỏi của họ chứ không xét ngƣời qua lời giải đáp”. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Rudyard Kipling nhà hùng biện nổi tiếng nhất thế giới đã phát biểu: “Tôi có sáu ngƣời bạn trung thành. Họ đã dạy cho tôi tất cả những gì mà tôi đã biết. Tên của họ là :Cái gì?”, “Tại sao?”, “Khi nào?”, “Nhƣ thế nào?”, “Ở đâu?” và “Ai?”.I Ogiegov, câu hỏi là sự nhằm đòi hỏi phải đƣa ra câu trả lời, sự đáp lại.
Hoặc tình trạng, bối cảnh nào đó mà đối tƣợng nghiên cứu, phán xét, một nhiệm vụ đòi hỏi giải quyết một vấn đề. Những định nghĩa trên tuy có khác nhau về hình thức, song chúng đều thống nhất về những dấu hiệu của câu hỏi nhƣ: - Hƣớng vào đối tƣợng nhận thức. - Sự đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ bằng lời. - Đòi hỏi giải quyết, đáp lại, trả lời các yêu cầu, nhiệm vụ.