Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài (29 trang). Chương 2: Vận dụng mô hình Blended Learning trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh (49 trang). Chương 3: Thực nghiệm sư phạm (8 trang). Kết luận và kiến nghị (1 trang).
Tài liệu tham khảo (3 trang). CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về dạy học theo Blended Learning Trên thế giới, các nghiên cứu về BL bắt đầu bùng nổ từ những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, nhiều công trình của các tác giả đã đi sâu nghiên cứu BL như: 1.
Harvey Singh (2003), Building effective blended learning programs, Issue of Educational Technology, Volume 43, Number 6, pp. Trong bài viết, tác giả đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về BL và thảo luận PPDH kết hợp, đồng thời đưa ra một mô hình kết hợp học tập có ý nghĩa. Garrison, Heather Kanuka (2004), Blended learning: Uncovering its transformative potential in higher education, The internet and higher education, 7 (2), pp. Các tác giả đã dựa trên mô tả về BL, thảo luận những tiềm năng mà mô hình này đem lại trong học tập, đưa ra những giải pháp thay đổi việc học theo mô hình BL trong bối cảnh đầy thách thức đối với giáo dục đại học.
Nhóm tác giả đã hoàn thiện định nghĩa và phân loại BL. Các tác giả cho rằng có sáu mô hình học tập BL nhìn từ góc độ người học, bài viết đã giới thiệu một số thay đổi và cập nhật những phát triển của BL cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội. Từ khi xuất hiện đến nay, BL đã được rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và phát triển, tùy vào đối tượng người học khác nhau mà các tác giả đã có những đề xuất mô hình DH kết hợp theo BL phù hợp. BL vẫn còn là một khái niệm khá mới ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI.
Nhưng trong những năm gần đây, có rất nhiều bài viết, công trình khoa học ở Việt Nam nghiên cứu sâu về chủ đề BL. Nguyễn Thế Dũng (2016), Dạy học lập trình theo tiếp cận quy trình phát triển phần mềm trên môi trường b-learning nhằm nâng cao năng lực của người học, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, ISSN 1859-1531, Số 4 [6]. Nguyễn Hoàng Trang (2017), Blended Learning trong dạy học Hoá học ở trường trung học phổ thông, Tạp chí Giáo dục, ISSN 2354-0753, Số đặc biệt kỳ 2 tháng 10/2017, Tr. 6 Tác giả đánh giá các nghiên cứu đại diện về BL ở trường trung học, thuật ngữ BL được sử dụng để mô tả PPDH trực tuyến kết hợp với các phương pháp truyền thống trong lớp học và nghiên cứu độc lập để tạo ra một PPDH mới, sự kết hợp giữa giảng dạy trực tiếp và các cơ hội học tập trực tuyến cho phép cá nhân hoá, linh hoạt và tạo cơ hội lớn hơn cho thành công của HS.
Tác giả đã giới thiệu về mô hình BL, thách thức và xu hướng tương lai của mô hình trong đào tạo GV ở trường đại học, đồng thời đề xuất các phương thức kết hợp, PPDH hiệu quả trên mô hình chiến lược sư phạm trong các hoạt động DH với mô hình BL. Vũ Thái Giang, Nguyễn Hoài Nam (2019), Dạy học kết hợp - Một hình thức phù hợp với dạy học đại học ở Việt Nam thời đại kỉ nguyên số, Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, ISSN 0868-3719, Số 64, Tr. Thông qua việc tìm hiểu các tác giả trong và ngoài nước về DH BL, chúng tôi nhận thấy rằng mỗi hình thức DH đều có những ưu và nhược điểm, việc kết hợp nhiều hình thức nhằm hạn chế nhược điểm của hình thức này, phát huy tối đa ưu điểm của hình thức kia. DH kết hợp – DH BL là một hình thức DH đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển và đang là một chủ đề nóng, đang được nghiên cứu và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Các nghiên cứu về phát triển năng lực tự học và năng lực tự học theo Blended Learning Việc phát triển NLTH, NLTH với sự hỗ trợ của CNTT nói chung và NLTH theo BL nói riêng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Sự phát triển của CNTT trong giai đoạn hiện nay đã tạo ra nhiều tiện ích giúp GV và HS có cơ hội trong việc lựa chọn nhiều phương pháp và hình thức dạy và học khác nhau nhằm tạo ra hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập, qua đó góp phần phát triển NLTH của HS. Một số bài viết, công trình khoa học có thể kể đến như: 1. Nguyễn Hoàng Trang, Nguyễn Hữu Chung, Mai Văn Hưng, Nguyễn Quang Huy, Kiều Cẩm Nhung, Đặng Trần Xuân, Trần Văn Thế (2020), Dạy học kết hợp và tổ chức dạy học kết hợp tại trường trung học phổ thông, Tạp chí Giáo dục, ISSN 2354- 0753, Số 485 (Kỳ 1 tháng 9/2020), Tr.
7 Nhóm tác giả đã đề xuất phương án tổ chức DH BL như lớp học đảo ngược và DH theo trạm. Các tác giả đã có những thảo luận trong quá trình nghiên cứu và đưa ra được đặc điểm của các mức độ DH theo BL và xác định các pha học tập (điện tử hay giáp mặt). Phạm Xuân Minh, Lê Thanh Huy (2019), Tổ chức dạy học Vật lí 10 theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh với sự hỗ trợ của phần mềm Working Model, Tạp chí Giáo dục, ISSN 2354-0753, Số đặc biệt tháng 12/2019, Tr. Các tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu từng chức năng của phần mềm Working Model trong việc hỗ trợ DH Vật lí theo hướng tiếp cận NL.
Các tác giả đã vận dụng phần mềm hỗ trợ nội dung DH vào phần Cơ học lớp 10 đồng thời cũng đã có những đề xuất các tiêu chí để đánh giá NLTH của HS. Một số bài viết, công trình khoa học chuyên ngành “Lí luận và dạy học Hoá học” nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT hay các mô hình dạy học BL vào dạy học Hoá học nhằm phát triển NLTH cho HS như: 3. Nguyễn Thị Phượng Liên, Lưu Thanh Tuấn (2020), Vận dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” vào dạy học Hoá học hữu cơ (Hoá học 9) nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh, Tạp chí Giáo dục, ISSN 2354-0753, Số 479 (Kì 1-6/2020), Tr. Nhóm tác giả đã đi sâu phân tích về đặc điểm, những ưu và nhược điểm của mô hình lớp học đảo ngược để GV cân nhắc khi sử dụng, xây dựng bài giảng theo mô hình lớp học đảo ngược trong DH.
Cùng nghiên cứu về lớp học đảo ngược, Nguyễn Mậu Đức đưa ra một số kết quả nghiên cứu việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào DH thông qua bài giảng E-Learning qua công trình: 4. Nguyễn Mậu Đức (2020), Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học bài “Oxi - Ozon” (Hoá học 10) thông qua bài giảng E-learning, Tạp chí Giáo dục, ISSN 2354-0753, Số 479 (Kì 1 tháng 6/2020), Tr. Vương Cẩm Hương (2020), Phát triển năng lực tự học cho HS thông qua dạy học Hoá hữu cơ ở trường Trung học Phổ thông, Luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục [14]. Như vậy, DH theo định hướng phát triển NL cho người học là hướng nghiên cứu đã và đang được các tác giả hướng đến, đáp ứng được nhu cầu học tập trong xã hội hiện nay.
Việc nghiên cứu theo hướng phát triển NL theo BL của các tác giả chính là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện tốt hơn đề tài này. Cơ sở lí luận về năng lực tự chủ và tự học 1. Khái niệm năng lực Theo Gerard và Roegiers (1993): “NL là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và tự nhiên”. Theo De Ketele (1995): “NL là một tập hợp trật tự các kĩ năng (hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra”.
Theo John Erpenbeck: “NL được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và thực hiện hoá qua chủ định”. Nói chung, có thể định nghĩa NL theo nhiều khía cạnh khác nhau. Qua đó, có thể hiểu đơn giản, NL là một tích hợp các kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và có sự đáp ứng tình huống đó tương đối tự nhiên và thích hợp [9]. Theo Chương trình GDPT 2018, đối với từng môn học, HS cần hình thành và phát triển được tối thiểu hai nhóm NL, bao gồm: NL chung và NL đặc thù (NL Hoá học, đối với môn Hoá học).
Năng lực chung Theo [15], NL chung là những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động. Các NL này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình khác nhau. Hiện nay, theo Chương trình GDPT 2018, khi tham gia tất cả các hoạt động học và giáo dục, HS đều được định hướng nhằm phát triển các NL chung bao gồm: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực hoá học Cũng theo [15], mục tiêu chung trong giảng dạy Hoá học ở trường phổ thông là HS tiếp thu kiến thức khoa học cơ bản về các đối tượng Hoá học quan trọng trong tự nhiên, tập trung vào việc hiểu các khái niệm cơ bản của Hoá học, chất và sự biến đổi chất, mối quan hệ giữa công nghệ, hoá học, môi trường, con người và ứng dụng của chúng.
Hiện nay, Chương trình Hoá học (GDPT 2018) đã xác định các NL thành phần của NL Hoá học và lượng hoá chúng bằng những động từ để người học và GV có thể dễ dàng đánh giá và tự đánh giá [4]: 9 Bảng 1. Các thành phần và biểu hiện tương ứng của năng lực Hoá học Thành Biểu hiện phần - Nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất; các quá trình hoá học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất. Các biểu hiện cụ thể: - Nhận biết và nêu được tên của các đối tượng, sự kiện, khái niệm hoặc quá trình hoá học.