Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Bình đẳng dân tộc và các nội dung cơ bản của bình đẳng dân tộc 1. Bình đẳng dân tộc Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, con người sinh sống, hoạt hoạt động và lao động đều mang tính cộng đồng, cùng làm cùng hưởng, mọi thành viên trong thị tộc, bộ lạc đều bình đẳng, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, cùng săn bắn, hái lượm và cùng được hưởng những phần của cải như nhau trong số sản phẩm thu được, và tuy nhiên họ đều phải tuân thủ như nhau về các quy ước chung trong cộng đồng, không có trường hợp ngoại lệ. Mọi hành vi trái với quy ước chung của cộng đồng thì phải chịu sự trừng phạt theo quy ước đã định.
Ở xã hội này, Ph.Ăngghen đã nhận xét: "Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao. Tất cả đều bình đẳng và tự do" [20, tr. Tuy nhiên, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, lực lượng sản xuất còn thấp kém nên sản phẩm lao động còn ít ỏi chỉ đủ để tồn tại, nên cách cùng làm cùng hưởng theo kiểu chia đều là phương thức duy nhất để xã hội cùng tồn tại. Khi lực lượng sản xuất phát triển, của cải làm ra đã có dư thừa tương đối thì xuất hiện tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước, xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời cùng với sự bất bình đẳng, phân chia đẳng cấp giàu nghèo, sang hèn cũng như địa vị của từng cá nhân trong xã hội.
Như vậy, sự bất bình đẳng trong các cộng đồng chủng tộc, bộ tộc chính thức manh nha của bất bình đẳng dân tộc đã bắt đầu xuất hiện. Nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại Pla-tôn (427-347 tr.CN) khi bàn về vấn đề Nhà nước đã cho rằng: một nhà nước lý tưởng là nhà nước có những đạo luật công bằng được thiết lập trên cơ sở trí tuệ và lợi ích quốc gia chứ không phải lợi ích của mỗi người cầm quyền. Ari-xtốt (384-322 tr.CN) cho rằng: sự phân chia giai cấp và địa vị giai cấp là lẽ tự nhiên, công bằng và bình đẳng chỉ áp dụng cho những người cùng giai cấp, các giai cấp khác nhau thì công bằng và bình đẳng giai cấp khác nhau; sự bất bình giữa các giai cấp theo ông đó chính là sự công bằng. Ở Trung 7 Quốc cổ đại, Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị của các nhà tư tưởng trước thành một học thuyết pháp trị khá hoàn chỉnh nhằm thiết lập một xã hội công bằng.
Trong xã hội phong kiến, với sự phân chia giai cấp địa chủ và nông dân, đất đai và tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp địa chủ, quý tộc, nông dân chỉ là người đi cày thuê cuốc mướn, con người hàng ngày vẫn phải đối mặt với những bất công trong xã hội. Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại bọn địa chủ phong kiến đòi công bằng và bình đẳng trong xã hội. Ăngghen đã từng nhận xét: "Điều đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa chủ, lãnh chúa để đòi công bằng xã hội" [19, tr. Chủ nghĩa tư bản ra đời, cùng với chiêu bài: "Tự do, bình đẳng, bác ái", của giai cấp tư sản nhằm tập hợp lực lượng để thủ tiêu chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định các quyền tự do cá nhân, quyền được sống trong xã hội dân chủ theo mô hình nhà nước "tam quyền phân lập" với một nền pháp luật tiến bộ, công bằng.
Đây là những nội dung cơ bản trong tư tưởng công bằng xã hội của thời kỳ này. Tômát Hốpxơ (1588-1679), nhà triết học nổi tiếng đại biểu cho chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII cho rằng: con người là giống nhau mà tạo hóa đã ban cho nên con người phải được công bằng và bình đẳng, nhưng con người thì lại có tính tham lam và ích kỷ nên không thể có sự bình đẳng và công bằng, ông đã chỉ ra rằng: Để đi đến sự công bằng giữa con người với con người thì phải có một lực lượng đứng trên để dàn xếp các lợi ích cá nhân, đó chính là nhà nước. Tư tưởng này của Tômát Hốpxơ đã mang tính duy vật về xã hội nhưng lại chưa thấy được trong xã hội có đối kháng giai cấp thì nhà nước mang tính giai cấp của giai cấp thống trị, nên ông đã cho rằng không thể thực hiện CBXH chung cho toàn xã hội. Tiếp tục tư tưởng của Tômát Hốpxơ, Xpinôza (1632-1677) đã đưa ra tư tưởng giải phóng con người và giải phóng mình đó là nhận thức, chính nhận thức mà làm cho con người tránh khỏi tệ nạn xã hội, giải phóng mọi áp bức và bất công.
Ông cho rằng, dốt nát là nguyên nhân của áp bức, bất công, không nhận thức được hiện thực thì không thể chế ngự được lòng ham muốn của mình. Tuy nhiên, quan điểm của ông vẫn chưa duy vật triệt để về xã hội. Đến Giăng Giắc Rútxô (1712-1778); nhà tư tưởng vĩ đại, nhà biện chứng lỗi lạc của nền triết học Khai sáng Pháp cho rằng: xã hội công dân đã tạo ra một xiềng xích mới trói buộc kẻ yếu, thế lực thuộc về kẻ mạnh, luôn kìm hãm, thủ tiêu bình 8 đẳng cá nhân và duy trì quan hệ bất bình đẳng. Theo ông, muốn xóa bỏ bất bình đẳng thì phải xây dựng một nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ, đồng thời ông cũng phê phán sở hữu tư nhân vì sở hữu tư nhân là nguyên nhân làm phân hóa thành kẻ giàu người nghèo, muốn xóa được sở hữu tư nhân thì phải thiết lập khế ước xã hội thì mới đạt được công bằng và bình đẳng.
Đây là những lý tưởng nhân đạo nhưng cũng chưa thoát khỏi hạn chế lịch sự. Các nhà xã hội không tưởng cũng phê phán mạnh mẽ xã hội đương thời được xây dựng trên nền móng của sự chiếm hữu, đồng thời các ông cũng đề ra một mô hình xã hội mới mà ở xã hội đó mọi người đều phải lao động và hưởng thụ như nhau, xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi, xây dựng một xã hội bình đẳng tạo điều kiện công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, tuy nhiên đây là một mô hình xã hội không tưởng cả về lý luận và thực tiễn, đây là một mơ ước về xã hội lý tưởng mà công bằng là theo chủ nghĩa bình quân, cào bằng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tư tưởng về bình đẳng xã hội của nhân loại đã có những bước tiến khá dài khác hẳn về chất so với các xã hội trước đó. Chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay đã trải qua những thăng trầm trong lịch sử nên có những bài học về việc điều chỉnh bình đẳng xã hội và cũng đạt được một số thành tựu, đồng thời dưới danh nghĩa "phúc lợi chung", chủ nghĩa tư bản đã làm dịu bớt được sức nóng trong xã hội tư bản, chủ nghĩa tư bản đã nhận thức được rằng cuộc đấu tranh giữa công nhân và tư sản về công bằng có thể sẽ là một mất một còn nếu không thực sự xoa dịu được tình hình, chính vì vậy mà chủ nghĩa tư bản có những điều chỉnh tương đối hợp lý, làm giảm bớt sức nóng về bình đẳng xã hội trong xã hội tư bản.
Tuy nhiên, đây chỉ là những biện pháp mang tính hình thức, còn về thực chất và lâu dài thì sự đòi hỏi công bằng của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đang chịu bất công với giai cấp tư sản tất yếu sẽ được thực hiện bằng một cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, ngay từ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, con người luôn đấu tranh nhằm vươn tới sự giải phóng. Trong những mục tiêu của sự nghiệp giải phóng ấy, bình đẳng và công bằng xã hội là vấn đề cơ bản và là vấn đề lâu dài. Đối với chủ nghĩa xã hội bình đẳng và công bằng xã hội là nguyện vọng thiết tha của nhân dân đồng thời là một trong những mục tiêu và động lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
9 Từ những quan niệm về bình đẳng trên có thể thấy bình đẳng có nghĩa là sự ngang bằng nhau về một phương diện nào đó giữa hai hay một số sự vật cùng tham gia một quan hệ nhất định. Trong cuốn “Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học”, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội năm 1986 thì khái niệm “Bình đẳng - là những điều kiện và khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển các năng lực và thoả mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội, địa vi như nhau của mọi người trong xã hội…” [30, tr. Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” - Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội - Việt Nam xuất bản năm 1994 thì khái niệm “bình đẳng - ngang bằng nhau về địa vị và quyền lợi”, ví như mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nam nữ bình đẳng [31, tr. Khái niệm bình đẳng ngày nay là một giá trị xã hội, là thành quả của nhân loại trong quá trình phát triển nhằm tạo ra các điều kiện, cơ hội ngang nhau, không phân biệt dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm mưu cầu hạnh phúc.
Từ những quan niệm về bình đẳng trên ta có thể thấy rằng: Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm cộng đồng xã hội về một phương diện hay những phương diện xã hội nhất định nào đó, chẳng hạn như bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về khả năng, về cơ hội, về mức độ thoả mãn những nhu cầu cụ thể nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Từ lôgíc đó ta có thể nói rằng sự ngang bằng nhau giữa người với người (hoặc giữa các nhóm cộng đồng với nhau) về mọi phương diện, là nói tới một sự bình đẳng xã hội toàn diện. Bình đẳng xã hội chỉ đặt ra trong sự so sánh về phương diện xã hội. Bình đẳng xã hội chỉ đặt ra trong sự so sánh về phương diện xã hội. Bình đẳng xã hội không loại trừ sự khác biệt về mặt tự nhiên, sinh vật chứ không phải chỉ là sự khác nhau về mặt xã hội.