Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ - VĂN HÓA LIÊN QUAN TỚI BIỂU TƯỢNG MẪU ÂU CƠ TRONG TÂM THỨC CƯ DÂN PHÚ THỌ 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Khái niệm biểu tượng Đời sống con người cũng như đời sống xã hội được dệt thành bởi cơ man những yếu tố tri giác được và không tri giác được. Những thứ tri giác được là cả một thế giới vật chất tự nhiên và xã hội của loài người.
Những cái không tri giác được thuộc thế giới tâm linh, trí tuệ, tâm hồn, như các giá trị trìu tượng, các đức hạnh, các thói xấu, các thực thể vô hình (như cộng đồng, quyền lực, niềm tin, các quy luật…). Các yếu tố tri giác được thì được con người nhận thức bằng tư duy lý trí. Nhưng tư duy lý trí lại không làm được vai trò ấy trước những yếu tố bất khả tri giác như tình yêu, sự đam mê, ghen ghét, đố kỵ, ý thức cộng đồng….Chúng là sản phẩm của các điều kiện sinh tồn tự nhiên xã hội. Để tri giác cái bất khả tri giác, người ta dùng một loại “vật trung gian”, làm trung gian để có thể " hiểu biết những điều khó có thể hiểu biết".
Vật môi giới đó chính là hệ thống các biểu tượng như: hình ảnh "Hoa cúc" tượng trưng cho sự chung thuỷ; "Rùa" tượng trưng cho sự trường tồn; "Hoa sen" tượng trưng cho sự thanh cao; "Nụ hôn" tượng trưng cho tình yêu; "Cái bắt tay" tượng trưng cho tình hữu nghị v. Nói cách khác, biểu tượng chính là ngôn ngữ của cái bất khả tri giác. Trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó. Tượng có nghĩa là "hình tượng".
Biểu 10 tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng. Khởi nguyên, biểu tượng bắt nguồn từ một tập quán Hy Lạp cổ đại, nói về một phiến đá bị đập vỡ ra thành nhiều mảnh và chia đều cho mỗi thành viên trong một bộ tộc nào đó, trước sự phân tán của họ, sau này khi được triệu tập trở lại thì những mảnh đá vỡ đó được ghép lại (Sumballein) nhằm xác nhận sự hiện diện trở lại của toàn nhóm. Bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng chính là sự chia ra và kết lại với nhau, nó hàm chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp. Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến ảo, nó bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ, vừa là nối kết, vừa xuất hiện lại vừa mất đi, khiến cho tư duy luôn phải truy tìm, liên tưởng và muốn nắm bắt lấy vô vàn những ý nghĩa đang còn tiềm ẩn ngay trong lòng của nó.
Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng : "Tự bản chất của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được. Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng"[7, tr. Nói như Georges Gurvitch: "Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ"[7, tr.
Hay như quan điểm: "Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng"[7, tr. Lại có ý kiến khẳng định: "Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích 11 hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh"[7, tr. Có thể nói, bản chất của biểu tượng là khó xác định, sự hiểu biết về nó còn tuỳ thuộc vào sự từng trải và kinh nghiệm vốn có của mỗi cá nhân cũng như trình độ nhận thức của từng người.
Không những thế, việc "giải mã" tìm ra ý nghĩa của biểu tượng cũng phải tính đến thói quen, phong tục, tập quán của các nền văn hoá trong từng cộng đồng dân tộc khác nhau. Một biểu tượng thường có nhiều nghĩa và ngược lại một ý nghĩa lại có nhiều biểu tượng cùng biểu thị. Vậy, có thể hiểu biểu tượng là những hình ảnh tượng trưng được phô bày khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của nó. Tự điển Larousse cho rằng : "Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó".
Chu Hy - nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131 - 1200) trong "Dịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết: "Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia"[2, tr. Như hình bát quái, đã lấy 8 quẻ trong kinh Dịch làm đồ hình. Mỗi quẻ là một tượng lớn, được cấu thành bởi hai tượng nhỏ cơ bản: Một vạch liền (-) là tượng của nguyên lý dương, một vạch đứt (--) là tượng của nguyên lý âm. Về mặt ý nghĩa của biểu tượng, còn cho phép đọc: vạch liền là tượng của giống đực, mặt trời, đàn ông, ánh sáng, sự sống, tiến lên, cái thiện, hạnh phúc, hoà bình v.
vạch đứt là tượng của giống cái, mặt trăng, đàn bà, bóng tối, sự chết, thoái lui, cái ác, đau khổ, chiến tranh v. Biểu tượng luôn mở rộng sự liên tưởng để trí tuệ có thể truy tìm, khám phá ra những ý nghĩa còn chìm khuất trong chiều sâu nhận thức của con người. 12 Trong thực tế, biểu tượng bao gồm mọi dạng thức hình ảnh, được thể hiện trong thể tĩnh cũng như thể động, cái hữu hình cũng như cái vô hình. Nó tác động vào giác quan của con người chủ yếu là thính giác và thị giác, tạo nên những rung động về chúng trong tâm hồn của con người theo từng mức độ khác nhau.
Biểu tượng có mặt hầu hết trong các biểu hiện của cuộc sống, từ những vật thể cụ thể trong kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc,. quốc huy, quốc kỳ, huân chương, cho đến các hình tượng trong tác phẩm nghệ thuật như: thơ ca, âm nhạc, điện ảnh v. Và kể cả các khuôn mẫu ứng xử trong đời sống hàng ngày hoặc trong các nghi thức lễ hội truyền thống. Biểu tượng chính là "ngôn ngữ tượng trưng" chỉ có ở loài người và là "tế bào" của văn hoá.
Cho nên tìm hiểu biểu tượng cũng là tìm hiểu về văn hoá. Thế giới văn hoá chính là thế giới của biểu tượng. Quá trình tìm hiểu và nhận thức về biểu tượng là quá trình nắm bắt và truyền đạt thông tin có trong các biểu tượng. Qua đó con người có thể nhận thức một cách sâu sắc về đời sống của chính bản thân mình nhằm góp phần biến đổi một cách lớn lao trong sự phát triển toàn diện về nhân cách của họ.
Vì thế, biểu tượng có một chức năng quan trọng nhất, là sự điều tiết và định hướng trở lại đời sống xã hội. Đó cũng là tính văn hoá của biểu tượng. Ngoài ra, biểu tượng còn có "năng lực" làm bộc lộ ra những điều bí ẩn đang còn chìm sâu trong cõi vô thức của con người và là nguồn động lực sâu kín của nhận thức, nó mở cánh cửa của trí tuệ cho ta bước vào một thế giới tưởng tượng đầy nhân tính. Điều quan trọng, nó còn là hạt nhân của sự di truyền xã hội, từ đời này sang đời khác theo dòng đi của lịch sử, bằng các khuôn mẫu văn hoá cổ truyền - Cổ mẫu (Archetypes) chìm sâu trong vô thức của cộng đồng - xã hội.
13 Việc nhận thức và sáng tạo ra các biểu tượng cũng chính là sự nỗ lực của con người muốn "giải mã" những điều tiềm ẩn còn chưa được khám phá. Đồng thời, con người cũng muốn làm chủ về mặt nhận thức nhằm nâng mình lên tầm cao trí tuệ và thực chất là muốn thoát khỏi màn đêm tối mịt mùng, bao vây và giam hãm con người trong sự vô minh. Biết bao nhiêu giá trị của biểu tượng đang còn chìm khuất trong huyền thoại, trong nếp sống, trong lễ hội truyền thống và cả trong kho tàng văn hoá - nghệ thuật dân gian vẫn chưa được khám phá. Hệ thống giá trị xã hội được đúc kết, hàm chứa trong lòng của biểu tượng và biểu tượng chính là hình thức biểu đạt của các giá trị đó.
Thế giới biểu tượng là thế giới của ý nghĩa mà con người đã và đang tìm kiếm hoặc chọn lựa một kiểu ứng xử, một quan hệ nào đó đối với tự nhiên và xã hội. Các giá trị, chuẩn mực được kết tinh trong lòng các biểu tượng chính là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng xã hội, nó quy định thế ứng xử và giao tiếp của con người, chi phối toàn bộ đời sống tâm lý cũng như mọi hoạt động của họ trong cộng đồng - xã hội đó. Biểu tượng đã làm nên đặc trưng duy nhất để phân biệt văn hóa với văn minh. Như vậy, bằng hướng tiếp cận ký hiệu học nghiên cứu biểu tượng và coi nó như là một hình thái biểu hiện đặc trưng của văn hoá, ta khẳng định rằng, biểu tượng chính là "tế bào” của văn hoá.
Có thể nói các yếu tố làm nên văn hoá bao gồm: Giá trị - Chuẩn mực - Biểu tượng. Tóm lại, “biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn hoá. Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hoá” của con người, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó. Biểu tượng được xem là “tế bào” cuả văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại.
Nó quy định mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”[10]. 14 * Một số dạng thức khác của biểu tượng Trong quá trình nhận thức hiện thực, con người đã sáng tạo nhiều dạng thức biểu tượng khác nhau, ứng với tính đa dạng của hiện thực khách quan. Một cách khái quát nhất, có thể kể đến: biểu tượng, biểu trưng, biểu hiện, phù hiệu, huy hiệu, nhãn hiệu… Biểu trưng: “ trưng” là điềm, là dấu hiệu cho phép nhận thấy.