Luận án tiến sĩ những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ việt nam hiện đại

Luận án tiến sĩ phân tích những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ việt nam hiện đại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ văn học

2019

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Đóng góp mới của luận án

0.5. Phƣơng pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Giới thuyết về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực

1.2. Chủ nghĩa tượng trưng

1.3. Chủ nghĩa siêu thực

1.4. Nghiên cứu về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ hiện đại Việt Nam

1.4.1. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại

1.4.2. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong bút pháp nghệ thuật của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại

1.4.3. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc nhìn so sánh

1.5. Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu

2. CHƯƠNG 2: YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ BỐI CẢNH TIẾP NHẬN VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY ĐẦU THẾ KỈ XX

2.1. Phong trào Thơ mới trong hành trình phát triển tư duy nghệ thuật

2.2. Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới

2.3. Sự tương hợp, tương giao trong cảm nhận về thế giới

2.4. Sử dụng biểu tượng trong Thơ mới

2.5. Nhạc tính trong Thơ mới

2.6. Những biểu hiện của chủ nghĩa siêu thực trong Thơ mới

2.6.1. Khám phá hiện thực tuyệt đối bằng giấc mơ

2.6.2. Khám phá siêu thực bằng trực giác

2.6.3. Phương thức tạo hình độc đáo của các nhà thơ siêu thực

3. CHƯƠNG 3: YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 VÀ NHU CẦU CÁCH TÂN, HIỆN ĐẠI HÓA THƠ

3.1. Bối cảnh thơ khu vực miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975

3.2. Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Trần Dần

3.2.1. Ngôn từ thơ giàu sức gợi cảm và nhạc tính

3.2.2. Thơ Trần Dần sử dụng biểu tượng đầy ám ảnh

3.3. Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Hoàng Cầm

3.3.1. Lối viết tự động

3.3.2. Giải mã những giấc mơ

3.3.3. Phương pháp tạo hình

3.3.4. Thơ Hoàng Cầm mở ra tính chất tương giao và những liên tưởng bất ngờ

3.3.5. Những sáng tạo về nhạc tính

3.4. Bối cảnh văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975

3.5. Thơ Thanh Tâm Tuyền trong ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực

3.5.1. Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Thanh Tâm Tuyền

3.5.2. Những biểu hiện của yếu tố siêu thực trong thơ Thanh Tâm Tuyền

3.6. Bùi Giáng với những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực

3.6.1. Hệ thống thi ảnh biểu tượng trong Bùi Giáng

3.6.2. Dòng chảy siêu thực trong thơ Bùi Giáng

4. CHƯƠNG 4: YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1975 THỰC HÀNH SÁNG TẠO TRONG THẾ GIỚI ĐA TRỊ

4.1. Phác thảo diện mạo thơ Việt Nam từ sau 1975

4.2. Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt Nam từ sau 1975

4.2.1. Dấu ấn tượng trưng trong ngôn từ và nhạc điệu

4.3. Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực

4.3.1. Dấu ấn siêu thực trong cảm thức nghệ thuật

4.3.2. Dấu ấn siêu thực trong cấu trúc văn bản ngôn từ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách tổng quan biểu hiện chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại

Chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực là hai trào lưu nghệ thuật có ảnh hưởng sâu sắc đến thơ Việt hiện đại. Chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại được tiếp nhận từ thơ Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với đặc trưng là sử dụng biểu tượng để biểu đạt những ý niệm trừu tượng, đa nghĩa và giàu tính nhạc. Trong khi đó, chủ nghĩa siêu thực trong thơ Việt hiện đại xuất hiện muộn hơn, tập trung vào khai thác tiềm thức, vô thức, giấc mơ và sự phi lý, tạo nên những hình ảnh mộng mị, bất ngờ và độc đáo. Qua các giai đoạn từ phong trào Thơ mới (1932-1945), giai đoạn 1945-1975 đến sau 1975, các yếu tố tượng trưng và siêu thực đã được các nhà thơ Việt Nam vận dụng linh hoạt, góp phần làm phong phú bút pháp và tư tưởng sáng tác. Việc tiếp nhận này không chỉ là sự du nhập thụ động mà còn là quá trình sáng tạo, hòa nhập với tinh thần văn hóa phương Đông, tạo nên diện mạo thơ Việt hiện đại đa dạng và độc đáo.

1.1. Phân tích chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại qua các giai đoạn

Chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại được tiếp nhận và phát triển qua nhiều giai đoạn. Ở giai đoạn Thơ mới, các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu đã sử dụng biểu tượng để thể hiện những ý niệm trừu tượng, cảm xúc sâu sắc. Giai đoạn 1945-1975, tượng trưng được vận dụng trong thơ của Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm với sự đổi mới về hình thức và nội dung. Sau 1975, các nhà thơ như Mai Văn Phấn, Thanh Thảo tiếp tục khai thác biểu tượng đa nghĩa, kết hợp với yếu tố tâm linh và bản thể, tạo nên sự đa chiều trong thơ tượng trưng Việt Nam.

1.2. Phân tích chủ nghĩa siêu thực trong thơ Việt hiện đại và đặc điểm nổi bật

Chủ nghĩa siêu thực trong thơ Việt hiện đại tập trung vào việc khai thác vô thức, giấc mơ và sự phi lý. Các nhà thơ như Trần Dần, Bùi Giáng đã sử dụng thủ pháp viết tự động, hình ảnh bất ngờ, nghịch lý để tạo nên những tác phẩm mang tính huyền ảo và sâu sắc. Đặc điểm nổi bật của thơ siêu thực Việt Nam là sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa phương Đông với tư duy hiện đại phương Tây, tạo nên phong cách độc đáo, vừa mơ mộng vừa thực tại.

II. Hướng dẫn nhận diện biểu hiện chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại qua bút pháp nghệ thuật

Biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại thể hiện rõ qua bút pháp nghệ thuật như sử dụng biểu tượng, hình ảnh tượng trưng, ngôn ngữ giàu tính gợi cảm và nhạc tính. Các nhà thơ vận dụng biểu tượng không chỉ để đại diện cho sự vật mà còn để mở rộng ý nghĩa, tạo nên sự đa tầng trong cảm nhận. Ngôn ngữ thơ tượng trưng thường mang tính hàm súc, ẩn dụ, kích thích trí tưởng tượng và cảm xúc của người đọc. Nhạc tính trong thơ tượng trưng được chú trọng nhằm tạo nên sự hòa hợp giữa âm thanh và ý nghĩa, làm tăng sức biểu cảm và chiều sâu nghệ thuật.

2.1. Đặc điểm hình ảnh tượng trưng trong thơ Việt hiện đại

Hình ảnh tượng trưng trong thơ Việt hiện đại thường mang tính đa nghĩa, huyền bí và giàu liên tưởng. Các biểu tượng như chim bồ câu, xiềng xích, ánh trăng không chỉ là sự vật cụ thể mà còn biểu thị cho những ý niệm trừu tượng như hòa bình, nô lệ, cô đơn. Sự vận dụng hình ảnh tượng trưng giúp mở rộng không gian biểu đạt, tạo nên chiều sâu tư tưởng và cảm xúc cho tác phẩm.

2.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nhạc tính trong thơ tượng trưng Việt Nam

Ngôn ngữ trong thơ tượng trưng Việt Nam được chọn lọc kỹ lưỡng, giàu tính gợi cảm và biểu tượng. Nhạc tính được khai thác qua vần điệu, nhịp điệu và âm thanh của từ ngữ, tạo nên sự hòa hợp giữa hình thức và nội dung. Điều này giúp tác phẩm không chỉ truyền tải ý nghĩa mà còn kích thích cảm xúc sâu sắc, làm tăng sức hấp dẫn và tính nghệ thuật của thơ.

III. Phương pháp phân tích biểu hiện chủ nghĩa siêu thực trong thơ Việt hiện đại qua hình ảnh và cấu trúc văn bản

Phân tích chủ nghĩa siêu thực trong thơ Việt hiện đại tập trung vào việc khám phá hình ảnh siêu thực, phi lý và cấu trúc văn bản ngôn từ. Hình ảnh siêu thực thường là sự kết hợp bất ngờ giữa các yếu tố tưởng chừng không liên quan, tạo nên cảm giác mơ hồ, huyền ảo và kích thích trí tưởng tượng. Cấu trúc văn bản siêu thực không tuân theo quy tắc logic thông thường, có thể phá vỡ trật tự cú pháp, sử dụng thủ pháp viết tự động để thể hiện tư duy vô thức. Phương pháp này giúp làm nổi bật tính sáng tạo và tự do trong thơ siêu thực Việt Nam.

3.1. Phân tích hình ảnh siêu thực trong thơ Việt hiện đại

Hình ảnh siêu thực trong thơ Việt hiện đại thường mang tính mộng mị, bất ngờ và nghịch lý. Các nhà thơ như Trần Dần, Bùi Giáng sử dụng hình ảnh kết hợp giữa thực và ảo, giữa hiện thực và giấc mơ để tạo nên không gian thơ huyền bí, đa chiều. Những hình ảnh này không chỉ gây ấn tượng mạnh mà còn mở ra nhiều liên tưởng sâu sắc về bản thể và thế giới nội tâm.

3.2. Cấu trúc văn bản và thủ pháp viết tự động trong thơ siêu thực Việt Nam

Cấu trúc văn bản trong thơ siêu thực thường phi tuyến tính, không tuân theo quy tắc ngữ pháp truyền thống. Thủ pháp viết tự động được sử dụng để thể hiện dòng chảy tư duy vô thức, giúp nhà thơ bộc lộ cảm xúc và ý tưởng một cách tự do, không bị kiểm soát bởi lý trí. Điều này tạo nên sự mới mẻ, độc đáo và giàu sức gợi trong thơ siêu thực Việt Nam.

IV. Bí quyết ứng dụng chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong sáng tác thơ Việt hiện đại

Việc ứng dụng chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong sáng tác thơ Việt hiện đại đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về nguyên tắc sáng tạo và bút pháp nghệ thuật của hai trường phái này. Các nhà thơ cần vận dụng linh hoạt biểu tượng, hình ảnh, ngôn ngữ và cấu trúc văn bản để tạo nên tác phẩm vừa giàu tính thẩm mỹ vừa có chiều sâu tư tưởng. Đồng thời, sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa phương Đông và phương Tây là chìa khóa để phát huy tối đa giá trị nghệ thuật của thơ tượng trưng và siêu thực Việt Nam.

4.1. Phương pháp sáng tạo hình ảnh và biểu tượng trong thơ tượng trưng Việt Nam

Phương pháp sáng tạo hình ảnh trong thơ tượng trưng Việt Nam tập trung vào việc lựa chọn và kết hợp các biểu tượng giàu ý nghĩa, đa tầng. Nhà thơ cần khai thác sự liên tưởng phong phú, tạo nên những hình ảnh vừa cụ thể vừa trừu tượng, kích thích trí tưởng tượng và cảm xúc của người đọc. Việc sử dụng biểu tượng không chỉ để đại diện cho sự vật mà còn để mở rộng không gian tư tưởng và cảm xúc.

4.2. Kỹ thuật viết tự động và khai thác vô thức trong thơ siêu thực Việt Nam

Kỹ thuật viết tự động là một trong những phương pháp quan trọng trong thơ siêu thực, giúp nhà thơ bộc lộ tư duy vô thức một cách tự do và chân thực. Việc khai thác vô thức, giấc mơ và sự phi lý tạo nên những tác phẩm độc đáo, giàu sức gợi và mang tính khám phá bản thể sâu sắc. Kỹ thuật này đòi hỏi sự nhạy cảm và tinh tế trong việc tổ chức ngôn từ và hình ảnh.

V. Top kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại. Các tác giả tiêu biểu như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Trần Dần, Bùi Giáng đã để lại dấu ấn sâu sắc với những sáng tác mang đậm yếu tố tượng trưng và siêu thực. Ứng dụng thực tiễn của hai trường phái này giúp mở rộng phạm vi sáng tạo, đổi mới bút pháp và tư duy nghệ thuật, góp phần làm phong phú nền thơ Việt. Ngoài ra, việc nghiên cứu và giảng dạy về biểu hiện tượng trưng và siêu thực còn giúp nâng cao nhận thức về giá trị văn học hiện đại và thúc đẩy sự phát triển của thơ ca đương đại.

5.1. Nghiên cứu điển hình về tác động của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt hiện đại

Nghiên cứu về tác động của chủ nghĩa tượng trưng tập trung vào việc phân tích các tác phẩm của những nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng. Qua đó, thấy rõ sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, cách sử dụng biểu tượng và nhạc tính, góp phần làm giàu cho ngôn ngữ thơ Việt. Những nghiên cứu này cũng chỉ ra sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây trong sáng tác tượng trưng Việt Nam.

5.2. Ứng dụng và ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực trong sáng tác thơ Việt hiện đại

Chủ nghĩa siêu thực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách và bút pháp của các nhà thơ như Trần Dần, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền. Việc ứng dụng các thủ pháp siêu thực như viết tự động, hình ảnh phi lý, giấc mơ giúp mở rộng không gian sáng tạo, thể hiện chiều sâu tâm linh và bản thể. Ảnh hưởng này còn góp phần thúc đẩy sự đổi mới trong thơ ca đương đại, tạo nên những tác phẩm độc đáo và có giá trị nghệ thuật cao.

VI. Hướng dẫn kết luận và tương lai phát triển chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại

Qua nghiên cứu, có thể khẳng định rằng chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại đã tạo nên những bước đột phá quan trọng trong tư duy và bút pháp sáng tác. Dù không hình thành trường phái hoàn chỉnh như ở phương Tây, nhưng ảnh hưởng của hai trào lưu này đã góp phần làm phong phú và đa dạng hóa thơ Việt. Tương lai, việc tiếp tục nghiên cứu, khai thác và phát triển các yếu tố tượng trưng, siêu thực sẽ giúp thơ Việt hiện đại không ngừng đổi mới, hội nhập sâu rộng hơn với văn học thế giới, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

6.1. Kết luận về vai trò của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại

Chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực đã góp phần làm thay đổi quan niệm nghệ thuật và bút pháp thơ Việt hiện đại, mở ra những hướng đi mới trong sáng tác. Các yếu tố này giúp nhà thơ thể hiện cái tôi bản thể, khám phá chiều sâu tâm linh và mở rộng không gian biểu đạt. Vai trò của chúng không chỉ giới hạn trong phạm vi nghệ thuật mà còn phản ánh sự giao lưu văn hóa và phát triển tư duy hiện đại.

6.2. Triển vọng phát triển và nghiên cứu tiếp theo về chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt

Triển vọng phát triển chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt hiện đại rất rộng mở, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa. Việc nghiên cứu sâu hơn về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, cũng như sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp làm sáng tỏ hơn các giá trị nghệ thuật và tư tưởng. Đồng thời, ứng dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu về hai trào lưu này.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho nền “thơ mới” nói chung và báo hiệu cho thơ siêu thực Pháp nói riêng nhưng ông không phải là nhà thơ siêu thực thực sự” [22- tr. Năm 1924, André Breton công bố Tuyên ngôn chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa siêu thực được định nghĩa là: “hành vi tâm lý vô thức thuần túy, mà thông qua nó bạn dự định biểu lộ - hoặc là bằng lời, hoặc là bằng chữ viết, hoặc là bằng bất cứ cách nào khác – sự vận hành thực tế của tư duy; sự xui khiến của tư duy, không có bất cứ một cách thức nào” [22- tr. André Breton đã coi Piere Reverdy là người đã đặt ra tiêu chí về hình ảnh trong thơ siêu thực. Theo luận điểm của Piere Reverdy thì hình ảnh xuất hiện bắt nguồn từ sự xích lại gần nhau hay thu hẹp khoảng cách của những hiện thực cách xa nhau.

Những thủ pháp được các nhà siêu thực dùng thường là: cái nghịch lý, sự bất ngờ, thống nhất giữa những cái không thể thống nhất được, sự tương tự…Những thủ pháp đó làm cho tác phẩm của họ mang tính huyền ảo, phi lý, tạo ra nét độc đáo riêng biệt. Theo Breton, cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực là sự tác động thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữ viết, hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác hoạt động hiện thực của tư tưởng. Các tư tưởng được tự do bộc lộ, không phải chịu kỳ một sự kiểm soát nào của lý trí hay của những thành kiến đạo đức và thẩm mỹ. Theo đó, chủ nghĩa siêu thực tôn trọng tính tự do của thơ ca, có thể không cần dấu câu, trật tự cú pháp, đề cao sự liên tưởng cá nhân.

Năm 1924 cũng là năm tạp chíLa Révolution surréaliste (Cách mạng siêu thực) ra đời như một dấu mốc cho sự hình thành của trường phái siêu thực. Cũng như tượng trưng, siêu thực có ảnh hưởng đến cả hội họa. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1971, trong Le surrélisme (Chủ nghĩa siêu thực), Armand Colin, tr.4, Robert Bréton, đã định nghĩa: “Chủ nghĩa siêu thực là một cuộc cách mạng văn hóa, bởi vì nó đã đề xuất với chúng ta sự đảo lộn các ý tưởng, hình ảnh, huyền thoại, thói quen thuộc về tinh thần đã quyết định cả nhận thức của chúng ta hiện tại về thế giới và sự dấn thân của bản thân mỗi người vào thế giới đó” [152 – tr 4]. Theo đó, tác giả cũng phân hình ảnh ra 3 cấp độ xây dựng hình ảnh cơ bản của chủ nghĩa siêu thực, đó là: dựa trên từ “như” so sánh, A như B, trong đó vế B có tính siêu thực, nhằm gây sửng sốt cho người đọc; đặt A và B cạnh nhau, không dùng liên từ “như” hoặc tương đương gọi là so sánh cụt (comparasion tronquée); sử dụng ẩn dụ cụt (métaphore tronquée) và là loại kết hợp hình ảnh phức tạp nhất của siêu thực.

Cuốn Surréalisme et littérature: une comparaison entre le surréalisme grec et français (Chủ nghĩa siêu thực và văn học: một so sánh giữa chủ nghĩa siêu thực Hy Lạp và Pháp) của Efthymia Rentzou, xuất bản năm 2002 đã nghiên cứu và chỉ ra những điểm tương đồng khác biệt giữa chủ nghĩa siêu thực trong văn học Hy Lạp và văn học Pháp. Trong cuốn Les surréalistes (Những tác giả chủ nghĩa siêu thực) của Anne Egger, Nxb Le Cavalier Bleu, 2003, từ ý tưởng về việc phần lớn chủ nghĩa siêu thực đã bị đóng băng trong phong trào khối (mouvement monolithique), Egger đã cố gắng chỉ ra sự đa dạng về phong cách và kỹ thuật trong phương thức biểu đạt siêu thực và chủ nghĩa triết chung (eclectisme) của các nghệ sỹ đương đại. Hai yếu tố tạo nên thành công cho thơ siêu thực là viết tự động và hình ảnh.Vaché thì hình ảnh là “những va đập chói lòa của từ ngữ”. Hình ảnh trong thơ siêu thực thường mang tính mộng mị, chiêm bao (onirique), lạ và bất ngờ.

Trong bài Le surréalisme (siêu thực) viết năm 2012, trên website http://lesdefinitions.fr/surrealisme, tác giả định nghĩa chủ nghĩa siêu thực là: “khái niệm bắt nguồn từ tiếng Pháp. Đây là một phong trào văn học nghệ thuật. Nền tảng triết học của chủ nghĩa siêu thực dựa trên trực giác của H. Bergson, thuyết phân tâm học của S.Freud và thuyết tương đối của A.

Cuốn Chủ nghĩa siêu thực Pháp thế kỷ XX: nghiên cứu – tuyển – dịch của 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đông Hoài, Nxb Văn học, năm 1994 đã nghiên cứu và dịch một số bài thơ siêu thực Pháp trong thế kỷ XX và thơ Việt có yếu tố siêu thực. Trong đó, tác giả có đề cập đôi nét về cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân. Trong bài giới thiệu cho chuyên đề Chủ nghĩa siêu thực đăng trên Tạp chí văn học nước ngoài, số 5, tháng 9-10/2004, sau này được trích đăng trên https://giaitri.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton--chu-nghia-sieu-thuc- 1974175.html với tựa đề André Breton và chủ nghĩa siêu thực, Đỗ Lai Thúy đã tóm tắt lại lại quá trình hình thành, cơ sở sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực cũng như mối quan hệ giữa chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa tượng trưng. Theo đó, mục đích cao nhất của chủ nghĩa siêu thực là kêu gọi giải phóng cái tôi khỏi những “gông cùm” của lo-gic, lí trí, đạo đức và mỹ học truyền thống.

Trong sáng tác, hiện thực cần được tái tạo một cách chân thực nhất – đó là hiện thực tuyệt đối. Đỗ Lai Thúy cũng bày tỏ mong muốn: “Tuy không còn tồn tại nữa, nhưng chủ nghĩa siêu thực là một chặng đường tự nhận thức quan trọng của văn học với những bài học lịch sử quý giá của nó. Hơn nữa, siêu thực không tồn tại như một chủ nghĩa nhưng văn học hiện đại không thể thiếu nó với tư cách là những yếu tố” [https://giaitri.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton--chu-nghia-sieu- thuc-1974175. Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: cuốn Littérature malgré elle: le surréalisme et la transformation du littéraire: la France, la Grèce, confrontations (Văn học và tấm gương tư phản chiếu: chủ nghĩa siêu thực và sự chuyển đổi văn học Pháp, Hy Lạp và những đối đầu) của Effthymia Rentzou, NXB Association des amis de Pleine marge, 2002; Nguyễn Văn Dân (2013), Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật; Lã Nguyên (2016), Sự tiếp nhận các lý thuyết văn học hiện đại phương Tây từ 1986 đến nayhttps://languyensp.com/2016/01/29/su-tiep-nhan-cac-li-thuyet- van-nghe-hien-dai-phuong-tay-tu-1986-den-nay/.

Như vậy, có thể thấy cũng như khi bàn về chủ nghĩa tượng trưng, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa siêu thực đều thống nhất về nội hàm khái niệm cũng như nguyên tắc sáng tác, quan niệm của trường phái này. Trong các công trình 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu, mối quan hệ giữa tượng trưng và siêu thực là vấn đề nhiều tác giả đề cập đến. Điều đó rất hữu ích cho chúng tôi trong khi tìm hiểu tổng hợp sự tác động các yếu tố tượng trưng, siêu thực của hai trường phái này đến sáng tác của các nhà thơ Việt Nam hiện đại. Nghiên cứu về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ hiện đại Việt Nam Ở Việt Nam không có chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực nhưng những ảnh hưởng của yếu tố tượng trưng, siêu thực đến thơ hiện đại Việt Nam là không thể phủ nhận.

Trong tiến trình thơ Việt Nam, ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến tư tưởng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật của các nhà văn ở mỗi thời điểm không giống nhau. Những ảnh hưởng này đã được nghiên cứu dưới hình thức những công trình nghiên cứu riêng rẽ hoặc tích hợp trong các công trình nghiên cứu chung trong các sách, báo, tạp chí. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhận thấy, các công trình tập trung vào các xu hướng chính: nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến tư tưởng sáng tác của các nhà thơ Việt Nam hiện đại; nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến bút pháp sáng tác của các nhà thơ Việt Nam hiện đại. Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại Những cách tân về nội dung và nghệ thuật của một thi phẩm bao giờ cũng bắt nguồn từ những sự thay đổi nhỏ nhất trong tư tưởng sáng tác.

Bộ phận thơ ca ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những tác động của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến vào đúng thời điểm các thi nhân Việt Nam đang tìm lối đi để thoát khỏi thực tiễn ảm đạm, buồn chán và nhiễu nhương, khi chủ nghĩa lãng mạn đã đến giai đoạn không đáp ứng được mộng chí thơ ca của các nhà thơ. Có lẽ vì thế, các nhà thơ trong phong trào Thơ mới những năm 1932 đã chịu ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực một cách rất tự nhiên, dựa trên cái gốc của chủ nghĩa lãng mạn để 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đưa thơ ca đến những sự đổi mới đáng ghi nhận. Điều mà các nhà thơ Việt Nam tiếp thu được ở chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực nằm ở những khía cạnh chính là: tiếp thu tư tưởng chủ động, khước từ chú giải, phân tích; phát huy trực giác kiến tạo thi giới; và giải thoát bế tắc.

Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như: Năm 1956, trong bài Đuổi bắt ảo ảnh, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến văn học siêu thực Pháp trong đối sánh với văn học phương Đông nói chung và văn học Việt Nam nói riêng. Tác giả bài viết đã phân tích những điểm giao thoa giữa quan niệm của trường phái tượng trưng với quan niệm phương Đông, sự tiếp nhận và tạo ra tính nhạc trong thơ của các nhà thơ Việt Nam. Theo ông, Xuân Diệu là tác giả duy nhất trong giai đoạn Thơ mới áp dụng kỹ thuật tượng trưng và chỉ trong bài Nguyệt cầm. Năm 1962, trong cuốn Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, Minh Huy đã nhận định về ảnh hưởng của khuynh hướng tượng trưng đến các nhà thơ Việt Nam trong giai đoạn tiền chiến và hậu chiến ở những mức độ đậm nhạt khác nhau.

Theo đó, Đoàn Phú Tứ được đánh giá là tác giả mang nhiều dấu vết của khuynh hướng tượng trưng nhất, Lưu Trọng Lưu được nhắc đến với bài thơ mang nhiều dấu ấn tượng trưng nhất, Hàn Mặc Tử và Bích Khê được xem là hai “nhà lý thuyết” của khuynh hướng tượng trưng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ