phần Mở đầu (4 trang), và phần kết luận (3 trang), luận văn được cấu trúc thành 3 chương: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu (27 trang) Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ giảng viên của trƣờng ĐHDL QL&KD Hà Nội (26 trang) Chƣơng 3: Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên của trƣờng ĐHDL QL&KD Hà Nội (25 trang) Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong tình hình hiện nay, nước ta đang đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến hành đổi mới cơ chế kinh tế. Xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng.
Giáo dục và đào tạo đang phải thực thi một trọng trách vô cùng to lớn là vừa phải phát triển nguồn nhân lực xã hội đáp ứng yêu cầu mới, vừa phải phát triển nguồn nhân lực của chính mình để đảm đương nhiệm vụ. Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 đặt mục tiêu tăng cả về quy mô và chất lượng đào tạo đại học. Do vậy, xây dựng và phát triển ĐNGV đại học là một việc quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay. Đến nay, đã có nhiều quan điểm chỉ đạo, định hướng; nhiều công trình nghiên cứu để giải quyết bài toán phát triển ĐNGV đại học nói chung.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng về giáo dục - đào tạo: “Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm cải thiện chế độ đãi ngộ. Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo viên so với học sinh theo yêu cầu từng cấp học” [4,34] Chiến lược phát triển giáo dục đại đến 2010 đặt ra mục tiêu “nâng tỷ lệ GV làm việc trong các cơ sở đại học có bằng thạc sỹ trở lên từ khoảng 41,6% như hiện nay lên 70% vào năm 2010”. Chiến lược cũng đã đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV như: “quy hoạch và phát triển đội ngũ GV trên cơ sở các chuẩn mực đã được xác định nhằm sớm tạo ra ĐNGV đủ mạnh cho sự nghiệp phát triển giáo dục đại học đến năm 2010 và những năm tiếp theo. Xây dựng tiêu chuẩn ĐNGV của một trường đại học, cao đẳng, một khoa, bộ môn về các mặt trình độ, chức danh, cơ cấu tuổi tác, giới tính…” [2,31-33] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX-05-11 đã có phần phân tích thực trạng của đội ngũ giáo viên (nói chung) và đ ưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ và nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài ra, còn có một số luận văn thạc sỹ về khoa học giáo dục và quản lý giáo dục nghiên cứu vấn đề đội ngũ giảng viên trường đại học. Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào về đội ngũ giảng viên trường ĐHDL được thực hiện một cách hệ thống, đặc biệt là nghiên cứu để đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục tình trạng GV ĐHDL vừa thiếu, vừa yếu vừa mất ổn định như hiện nay. Do đó, chúng tôi thấy cần có một nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này và tìm ra câu trả lời thích hợp để xây dựng và phát triển ĐNGV ĐHDL đáp ứng yêu cầu giảng dạy, đồng thời thích ứng nhanh với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội, của khoa học - công nghệ. Những tiếp cận lý luận của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực * Quản lý Từ xa xưa, khi các hoạt động trong xã hội loài người còn tương đối đơn giản với quy mô chưa lớn, công việc quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm với sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức. Kinh nghiệm ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính quy luật có thể vận dụng trong nhiều tình huống tương tự. Ngày nay, quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Đề cập đến vấn đề quản lý, Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần phải có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ng ười độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [28,480] Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều quan điểm về quản lý, đặc biệt ở các nước Phương Tây.Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [13] Harold Koontz trong "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" thì cho rằng: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn ít nhất”. [24,33] Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng của quản lý gồm: "dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra" [13,15] Theo Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [32,47] Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: "Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [13,1] Như vậy, dù định nghĩa bằng cách này hay cách khác thì các tác giả đều thống nhất quan điểm: quản lý là một quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Trong lao động quản lý chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý thông qua hệ thống các khâu hay dạng hoạt động xác định. Các hoạt động đó được chuyên môn hóa gọi là chức năng quản lý. Chức năng quản lý là tổng hợp 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị trí vai trò các mặt hoạt động của hệ thống quản lý đối với môi trường bên trong và bên ngoài nó. Chức năng quản lý sinh ra một cách khách quan từ chức năng sản xuất của khách thể quản lý.
Khi xác định các chức năng quản lý có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên được thống nhất ở bốn chức năng cơ bản sau: - Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu nội dung, biện pháp, thời gian và các điều kiện đảm bảo tính khả thi của kế hoạch. Kế hoạch là nền tảng của quản lý. - Tổ chức: Xác định các mối quan hệ, tính chất cách thức từ đó xắp sếp bố trí con người, nguồn lực cho công việc.
Đây là chức năng quan trọng nhất vì nó phản ánh toàn bộ nội dung, mục tiêu quản lý. - Lãnh đạo: Là quá trình tác động đến con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu theo mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra: Đo lường, đánh giá kết quả tìm ra ưu, khuyết điểm để sửa chữa, điều chỉnh trong tổ chức thực hiện mục tiêu. Trên thực tế, các chức năng trên diễn ra tuần hoàn theo một chu trình với tính logic chặt chẽ.
Tuy nhiên các chức năng kế tiếp và độc lập với nhau chỉ là tương đối, tuỳ theo nội dung, thời điểm mà một số chức năng có thể tiến hành đồng thời, đan xen với nhau. * Quản lý giáo dục Giáo dục là sự hình thành có mục đích và tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người. Hay nói cách khác, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất và nhân cách. Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục thế hệ trẻ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [32,12] Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định.
Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong các hoạt động giáo dục. Với nghĩa tổng quát hơn: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao” [14] Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục hiện nay ở nước ta được mở rộng không chỉ đơn thuần là các hoạt động quản lý trong ngành giáo dục - đào tạo mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục đào tạo thực hiện lời Bác Hồ “giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” * Quản lý nguồn nhân lực Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý nguồn nhân lực là chức năng quản lý giúp cho người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức”[25] Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động như: Kế hoạch hoá nguồn nhân lực, tuyển mộ, lựa chọn, đào tạo và phát triển, định hướng, thẩm định kết quả hoạt động, đề bạt hoặc thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải.