CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Những vấn đề lý luận về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên và xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên (1) Khái niệm người chưa thành niên Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (BPTTXLVPHC) là biện pháp chỉ có thể được áp dụng cho đối tượng là người chưa thành niên (NCTN). Tuy nhiên, không phải mọi NCTN đều có thể được áp dụng biện pháp này.
Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012 (Luật XLVPHC năm 2012), thì chỉ NCTN đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới có thể được áp dụng BPTTXLVPHC. Theo đó, để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến BPTTXLVPHC đối với NCTN, thì việc tìm hiểu về khái niệm NCTN là vô cùng cần thiết. NCTN là thuật ngữ được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống xã hội, cũng như trong các quy định pháp luật. Theo khảo sát của tác giả, hiện nay, thuật ngữ “NCTN” được sử dụng trong tổng cộng trong 529 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 52 Luật và 152 Nghị định6.
Tính riêng trong khuôn khổ Luật XLVPHC năm 2012, thuật ngữ “NCTN” được sử dụng tổng cộng 45 lần tại 18 điều khoản khác nhau7. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 (BLDS năm 2015) đưa ra định nghĩa về “NCTN”. Cụ thể, NCTN được hiểu là “người chưa đủ mười tám tuổi”8. Xét ở khía cạnh ngôn ngữ, theo tác giả Nguyễn Lân, thì “chưa” được hiểu là “vẫn không thực hiện, vẫn chưa đạt được”9, còn “thành niên” được hiểu là “người được pháp luật coi là đã trưởng thành và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc mình làm”10.
Theo giải thích của Viện Ngôn ngữ học thì “chưa” là “từ biểu thị ý phủ định đối với điều mà cho đến một lúc nào đó không có hoặc không xảy ra (nhưng 6 Số liệu được tra cứu dựa trên các văn bản được đăng tải tại website: https://luatvietnam. 7 Đó là các Điều 2, 10, 22, 58, 69, 97, 99, 111, 114, 122, 133, 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140 của Luật XLVPHC năm 2012. 9 Nguyễn Lân (2004), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
10 Nguyễn Lân (2004), tlđd (9), tr. 1681 7 tương lai có thể xảy ra)”11, còn “thành niên” là “đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ”12. Theo đó, mặc dù đưa ra các cách giải thích khác nhau, song có thể thấy các tác giả gần như thống nhất với đặc điểm chung nhất của NCTN, đó là người chưa đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật ghi nhân. Mặc dù, để đánh giá một người đã được xem là “thành niên”, hay trưởng thành hay chưa thì cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, khả năng nhận thức, độ tuổi,…Theo đó, độ tuổi của một người chỉ là một trong những yếu tố để đánh giá, xem xét vấn đề này.
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, việc xác định người đã thành niên hay NCTN không nhằm mục đích xác định về độ “trưởng thành” của người đó, mà chủ yếu để xác định khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật, khả năng chịu các trách nhiệm pháp lý từ Nhà nước. Chính vì vậy, các văn bản quy phạm pháp luật thường chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là độ tuổi, vì đây là yếu tố tương đối dễ xác định, tạo cơ sở cho việc áp dụng các quy định pháp luật được thực hiện thống nhất. Trong lĩnh vực xử lý VPHC (XLVPHC), mặc dù Luật XLVPHC năm 2012 không đưa ra khái niệm về NCTN, tuy nhiên, tại Phần thứ năm của Luật này quy định về các nguyên tắc chung khi XLVPHC đối với NCTN lại có đề cập về các độ tuổi như sau: “3. Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với NCTN VPHC phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi VPHC.
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi VPHC thì không áp dụng hình thức phạt tiền. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi VPHC bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;” Theo đó, độ tuổi tối đa của một người được xem là “chưa thành niên” theo Luật XLVPHC năm 2012 là “dưới 18 tuổi”. Xét ở góc độ ngôn ngữ, có thể thấy thuật ngữ “dưới” được sử dụng trong Luật XLVPHC năm 2012 có sự khác biệt so với thuật ngữ “chưa đủ” được sử dụng trong BLDS năm 2015. Cụ thể, “dưới” có thể hiểu là “tại một chỗ thấp hơn hoặc chưa tới mức cần thiết”13, còn “đủ” là “có số lượng hoặc 11 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng việt phổ thông, Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 12 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (11), tr. 13 Nguyễn Lân, tlđd (9), tr. 8 mức độ đáp ứng được yêu cầu, không ít hơn, cũng không nhiều hơn”14.
Do đó, “người dưới 18 tuổi” và “người chưa đủ 18 tuổi” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Như vậy, hiện nay đang có sự bất nhất trong cách xác định độ tuổi của NCTN giữa Luật XLVPHC năm 2012 và BLDS năm 201515. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu liên quan đến các BPTTXLVPHC đối với NCTN được quy định trong Luật XLVPHC năm 2012. Vì vậy, tác giả thống nhất với hướng quy định hiện nay của Luật XLVPHC năm 2012 về việc xác định độ tuổi của NCTN.
Theo đó “NCTN” được hiểu là “Người dưới 18 tuổi”. (2) Khái niệm XLVPHC đối với NCTN NCTN là một trong những đối tượng đặc biệt trong xã hội. Theo đó, ở ngưỡng trước khi bước sang tuổi 18, con người bước vào thời kỳ phát triển mang tính bản lề, có sự thay đổi nhanh, rõ rệt về thể chất, tâm sinh lý nhưng sự phát triển này vẫn còn nằm trong giai đoạn cuối của thời kỳ chưa trưởng thành, nhận thức chưa đầy đủ, cũng như tâm lý chưa được ổn định16. Chính vì vậy, NCTN là đối tượng có khả năng dễ thực hiện VPHC, cũng như dễ bị lôi kéo, kích động, xúi giục thực hiện VPHC.
Ngày nay, trong bất kỳ nhà nước hay xã hội nào, thì các vi phạm pháp luật cũng cần phải được phát hiện và xử lý, tuy nhiên mức độ xử lý như thế nào, trách nhiệm pháp lý đến đâu sẽ tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm, hậu quả của vi phạm pháp luật, cũng như đối tượng thực hiện vi phạm pháp luật. Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, VPHC là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm17. Do đó, VPHC là một dạng của vi phạm pháp luật, vì vậy cũng cần phải được phát hiện và xử lý, hay còn gọi là XLVPHC. Thuật ngữ “XLVPHC” được sử dụng lần đầu tiên tại Pháp lệnh xử phạt VPHC số 28-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành (Pháp lệnh năm 1989), tuy nhiên pháp lệnh này không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về thuật ngữ 14 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (11), tr.
15 Ngoài việc sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”, thì Luật XLVPHC năm 2012 còn có quy định về “Người chưa đủ 18 tuổi” tại điểm b khoản 2 Điều 94 như sau: “2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: …… b) Người chưa đủ 18 tuổi;…” Với việc sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ nêu trên, có thể thấy, Luật XLVPHC năm 2012 cũng có sự phân biệt giữa “người dưới 18 tuổi” và “người chưa đủ 18 tuổi”. 16 Cao Vũ Minh (2021), “Những nội dung về xử phạt NCTN VPHC cần được quy định chi tiết”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 03+04 (427+428), tr. 17 Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012.
Cho đến khi Pháp lệnh XLVPHC số 41-L/CTN ngày 6/7/1995 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành (Pháp lệnh năm 1995), thì thuật ngữ “XLVPHC” mới chính thức được định nghĩa, theo đó, XLVPHC được hiểu là “bao gồm xử phạt VPHC và các biện pháp xử lý hành chính khác”19. Định nghĩa này tiếp tục được kế thừa tại Pháp lệnh xử lý vi phạm phành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 (Pháp lệnh năm 2002)20. Đến khi Luật XLVPHC năm 2012 được ban hành, các nhà làm luật là bỏ đi quy định về việc định nghĩa thuật ngữ “XLVPHC”. Dưới góc độ thuật ngữ thì “xử lý” được hiểu là “có biện pháp trừng phạt đối với một việc phạm pháp”21.
Như vậy, có thể hiểu XLVPHC là việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với chủ thể thực hiện VPHC. Bên cạnh đó, Từ điển Luật học cũng đưa ra định nghĩa về “XLVPHC” như sau: “Là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự”22. Khoa học pháp lý cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cách định nghĩa đối với thuật ngữ “XLVPHC”. Cụ thể, có quan điểm cho rằng “XLVPHC là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước nhằm áp dụng các chế tài hành chính, do các chủ thể được Nhà nước giao quyền, thực hiện đối với cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định”23.
Cách định nghĩa này cũng có một số điểm cần được bàn luận thêm. Cụ thể như sau: Thứ nhất, việc sử dụng thuật ngữ “hành vi VPHC” trong định nghĩa nêu trên là chưa hoàn chuẩn xác. Bởi lẽ, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì VPHC được định nghĩa là “hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”.