Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Chuyên khảo phân tích Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

1.1. Những vấn đề lý luận về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên và xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.1.2. Khái niệm biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.1.3. Đặc điểm của các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.1.4. Ý nghĩa của các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2. Quy định pháp luật về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.1. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên cụ thể

1.2.2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.3. Điều kiện áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.4. Thẩm quyền áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.5. Thủ tục áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.6. Thi hành biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.2.7. Những thay đổi của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 liên quan đến biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

1.3. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ

2.1. Tổng quan tình hình áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.2. Đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.2.1. Những điểm tích cực

2.2.2. Những điểm hạn chế

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.3.1. Pháp luật vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập

2.3.2. Năng lực, nhận thức của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vẫn còn tương đối hạn chế

2.3.3. Nhận thức của người chưa thành niên đối với biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vẫn còn chưa cao

2.3.4. Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính vẫn chưa được đưa vào triển khai trên thực tế

2.4. Một số giải pháp kiến nghị góp phần hoàn thiện việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.4.1. Khắc phục các hạn chế, bất cập của pháp luật về biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.4.2. Về công tác tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức pháp luật về biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính cho chủ thể có thẩm quyền

2.4.3. Về công tác kiểm tra, giám sát việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính của chủ thể có thẩm quyền

2.4.4. Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính

2.4.5. Về việc sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính trong công tác áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

2.5. Kết luận Chương 2

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 01 – PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THỰC TIỄN

PHỤ LỤC 02 – KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC

Tóm tắt

I. Giải pháp nhân văn Khái niệm tầm quan trọng Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên

Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng vị thành niên luôn là một vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi sự cân bằng giữa tính răn đe, giáo dục và bảo vệ tối đa quyền lợi của trẻ em. Trong bối cảnh đó, các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên đã được ra đời như một giải pháp tiến bộ, thể hiện sự nhân văn của pháp luật Việt Nam. Đây không chỉ là biểu hiện của việc nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về Chính sách trẻ em và thanh thiếu niên mà còn là sự tiếp thu, thực hiện các quy định pháp luật của Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 1). Mục tiêu chính của các biện pháp thay thế là hướng tới phòng ngừa vi phạm hành chính vị thành niên, hỗ trợ các em nhận thức lỗi lầm, và tái hòa nhập cộng đồng mà không chịu gánh nặng của một hồ sơ xử phạt hành chính truyền thống. Các quy định này được kỳ vọng sẽ tạo ra một môi trường pháp lý linh hoạt hơn, tập trung vào giáo dục pháp luật vị thành niênphục hồi chức năng xã hội cho vị thành niên, thay vì chỉ đơn thuần là trừng phạt.

1.1. Khái niệm cốt lõi Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên là gì

Để hiểu rõ về biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên, cần làm rõ khái niệm người chưa thành niên (NCTN). Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, NCTN là người chưa đủ 18 tuổi. Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), Luật XLVPHC năm 2012 cũng thống nhất định nghĩa NCTN là “người dưới 18 tuổi” (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 7-8). Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên được định nghĩa tại khoản 4 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 là biện pháp mang tính giáo dục, áp dụng để thay thế cho hình thức xử phạt VPHC hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với NCTN VPHC. Các biện pháp này bao gồm nhắc nhở và quản lý tại gia đình. Bản chất, đây là một loại trách nhiệm hành chính mang tính cưỡng chế của nhà nước, nhưng có mục đích chính là giáo dục, thay vì trừng phạt, và chỉ áp dụng khi NCTN đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 15-16). Việc áp dụng biện pháp thay thế này là minh chứng cho việc thực hiện Cơ chế bảo vệ quyền trẻ em trong xử phạt, phù hợp với tinh thần của Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em.

1.2. Ý nghĩa sâu sắc của Biện pháp thay thế Bảo vệ và giáo dục vị thành niên

Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên mang ý nghĩa to lớn, thể hiện chính sách khoan hồng, văn minh của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó chú trọng công tác giáo dục pháp luật vị thành niên (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 19). Mục tiêu không chỉ là xử lý hành vi mà còn là định hướng, giúp vị thành niên nhận thức lỗi lầm và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn. Biện pháp này tạo điều kiện cho sự tham gia của cộng đồng, gia đình và xã hội vào công tác giáo dục vị thành niên vi phạm. Hầu hết các vi phạm pháp luật của NCTN đều có căn nguyên từ sự tác động của môi trường sống, gia đình, nhà trường và xã hội (Hoàng Minh Khôi, 2012, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 20). Do đó, việc huy động trách nhiệm gia đình trong giáo dục trẻ em và cộng đồng là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu phục hồi chức năng xã hội cho vị thành niên, giúp các em dễ dàng hòa nhập mà không mang theo định kiến tiêu cực.

II. Thực trạng áp dụng Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên Những khó khăn bất cập nào đang tồn tại

Dân số vị thành niên luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số Việt Nam, đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách phù hợp để phát huy vai trò của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm hành chính vị thành niên vẫn còn đáng báo động. Giai đoạn từ năm 2013 – 2018 ghi nhận 33.251 vụ vi phạm pháp luật do NCTN thực hiện, trong đó 63% là VPHC (Bộ Tư Pháp – UNICEF, 2019; Bộ Công An, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 41-42). Tình hình này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp xử lý vừa nghiêm minh vừa nhân văn, tập trung vào giáo dục. Sự ra đời của Luật XLVPHC năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên, được xem là một dấu ấn quan trọng (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 42). Mặc dù đã có những kết quả tích cực, như 6.237 NCTN được áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình từ 2014-2017 (Bộ Tư Pháp, 2018, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 42), việc thực thi vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế cần được tháo gỡ.

2.1. Tình hình vi phạm hành chính vị thành niên Con số đáng báo động

Các số liệu thống kê cho thấy tình hình vi phạm pháp luật vị thành niên, đặc biệt là vi phạm hành chính vị thành niên, vẫn diễn ra phổ biến. Trong giai đoạn 2018-2020, cả nước ghi nhận 10.786 vụ với hơn 16.583 đối tượng liên quan (Báo Công an TP. HCM, 2021, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 42). Sự gia tăng các vụ việc này cho thấy tầm quan trọng của các chính sách phòng ngừa vi phạm hành chính vị thành niên hiệu quả. NCTN thường có nhận thức và tâm lý chưa ổn định, dễ bị lôi kéo, dẫn đến những hành vi thiếu suy nghĩ về hậu quả (Nguyễn Quang Lộc, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 42). Điều này đặt ra thách thức lớn cho hệ thống tư pháp vị thành niên trong việc tìm kiếm các giải pháp xử lý không chỉ mang tính răn đe mà còn phải đảm bảo yếu tố giáo dục và hỗ trợ tâm lý vị thành niên vi phạm để các em có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

2.2. Những điểm hạn chế trong áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính

Mặc dù có ý nghĩa nhân văn, việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên trên thực tế vẫn tồn tại những hạn chế. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Đầu tiên, các quy định pháp luật vẫn chưa tạo được hành lang pháp lý vững chắc cho việc áp dụng trên thực tế. Thứ hai, công tác áp dụng pháp luật chưa được thống nhất và hiệu quả, thường do năng lực và nhận thức của các chủ thể có thẩm quyền còn hạn chế (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 1, 19). Bên cạnh đó, nhận thức của người chưa thành niên đối với các biện pháp này cũng chưa cao. Sự thiếu đồng bộ của Quy trình áp dụng biện pháp thay thế và việc chưa triển khai hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về XLVPHC cũng gây khó khăn trong việc theo dõi, đánh giá hiệu quả biện pháp thay thế vị thành niên. Những bất cập này đòi hỏi cần có các giải pháp toàn diện để hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi.

III. Phân tích chi tiết các loại Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên Nhắc nhở và Quản lý tại gia đình

Để thực hiện hiệu quả chính sách nhân văn trong xử lý vị thành niên vi phạm, Luật XLVPHC năm 2012 đã cụ thể hóa hai biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên chính: nhắc nhở và quản lý tại gia đình (Điều 139, 140 Luật XLVPHC năm 2012, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 21). Đây là những biện pháp mang tính xã hội sâu sắc, chú trọng vào vai trò của cá nhân, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục pháp luật vị thành niên và tái hòa nhập xã hội. Mục đích không phải là trừng phạt mà là chỉ ra lỗi lầm, giúp các em nhận thức và sửa chữa hành vi của mình. Việc áp dụng các biện pháp này thể hiện sự tin tưởng vào khả năng cải thiện của vị thành niên khi nhận được sự quan tâm và định hướng đúng đắn.

3.1. Biện pháp nhắc nhở Giải pháp giáo dục nhẹ nhàng

Biện pháp nhắc nhở được quy định tại Điều 139 Luật XLVPHC năm 2012 và Điều 15 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Đây là biện pháp thay thế cho hình thức xử phạt cảnh cáo đối với vị thành niên vi phạm hành chính. Mục đích là chỉ ra những vi phạm để NCTN nhận thức được hành vi sai trái của mình (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 21). Điều kiện áp dụng bao gồm: hành vi VPHC chỉ bị phạt cảnh cáo, và vị thành niên tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 27). Đây là một hình thức can thiệp sớm cho trẻ em vi phạm pháp luật, giúp các em kịp thời nhận ra và sửa chữa lỗi lầm mà không phải chịu các hình thức xử phạt nặng hơn, tránh để lại vết đen trong hồ sơ cá nhân, tạo điều kiện tốt hơn cho tương lai. Khác với hình thức nhắc nhở trước đây, biện pháp này chỉ áp dụng cho đối tượng vị thành niên và được quy định rõ ràng trong luật.

3.2. Biện pháp quản lý tại gia đình Nâng cao trách nhiệm gia đình

Biện pháp quản lý tại gia đình cho vị thành niên được quy định tại Điều 140 Luật XLVPHC năm 2012, có tác dụng thay thế cho biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Biện pháp này đề cao vai trò của gia đình trong việc quản lý, giáo dục vị thành niên vi phạm hành chính (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 23). Các điều kiện để áp dụng bao gồm: vị thành niên tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; có môi trường sống thuận lợi; và cha mẹ hoặc người giám hộ đủ điều kiện, tự nguyện nhận trách nhiệm gia đình trong giáo dục trẻ em và quản lý tại gia đình (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 28-29). Biện pháp này hạn chế sự kỳ thị của cộng đồng, huy động sự quan tâm, giúp đỡ từ gia đình và người thân, đồng thời giảm gánh nặng cho cơ quan nhà nước trong công tác đảm bảo an ninh trật tự. Vai trò của cơ quan nhà nước chủ yếu là hỗ trợ và giám sát, còn quá trình giáo dục diễn ra chủ yếu tại gia đình NCTN.

IV. Hướng dẫn các nguyên tắc điều kiện áp dụng Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên hiệu quả

Để đảm bảo tính hiệu quả, công bằng và đúng pháp luật, việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc và điều kiện đã được pháp luật quy định. Các nguyên tắc áp dụng biện pháp thay thế này không chỉ là kim chỉ nam cho các chủ thể có thẩm quyền mà còn là căn cứ để bảo vệ quyền lợi của vị thành niên. Đặc biệt, tính 'có điều kiện' của biện pháp thay thế nhấn mạnh rằng không phải mọi trường hợp vi phạm đều có thể áp dụng, mà chỉ những vị thành niên đáp ứng đầy đủ tiêu chí mới được hưởng chính sách nhân văn này. Điều này giúp cân bằng giữa mục tiêu giáo dục, phòng ngừa vi phạm hành chính vị thành niên và việc duy trì trật tự pháp luật.

4.1. Nguyên tắc cốt lõi khi áp dụng Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên

Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và đúng pháp luật, không phân biệt giới tính, tuổi tác hay nhân thân (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 24-25). Chỉ các biện pháp được quy định rõ ràng trong Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (nhắc nhở, quản lý tại gia đình) mới được áp dụng, tránh tình trạng lạm quyền. Một nguyên tắc quan trọng là các biện pháp thay thế chỉ được áp dụng khi vị thành niên đáp ứng đủ điều kiện theo Chương II Luật XLVPHC năm 2012 (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 25-26). Đặc biệt, việc áp dụng các biện pháp này không được coi là đã bị XLVPHC, giúp vị thành niên không bị mang 'tiền sự', tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng dễ dàng hơn. Cuối cùng, chủ thể có thẩm quyền phải ưu tiên xem xét khả năng áp dụng biện pháp thay thế trước khi quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 26).

4.2. Điều kiện cần và đủ để áp dụng biện pháp thay thế Đảm bảo đúng đối tượng

Để được áp dụng biện pháp nhắc nhở, vị thành niên phải thực hiện VPHC mà theo quy định bị phạt cảnh cáo, đồng thời đã tự nguyện khai báo và thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình (Luật XLVPHC 2012, Điều 139, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 27). Điều kiện 'tự nguyện khai báo' và 'thành thật hối lỗi' thể hiện thái độ hợp tác và ăn năn của NCTN. Đối với biện pháp quản lý tại gia đình, các điều kiện phức tạp hơn: vị thành niên cũng phải tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; có môi trường sống thuận lợi; và cha mẹ hoặc người giám hộ có nhân thân tốt, đủ điều kiện quản lý, giáo dục và có bản cam kết tự nguyện nhận trách nhiệm (Luật XLVPHC 2012, Điều 140; Nghị định 111/2013/NĐ-CP, Điều 5, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 28-29). Việc xác định 'môi trường sống thuận lợi' được căn cứ vào các tiêu chuẩn an toàn về an ninh, trật tự của khu dân cư. Những điều kiện này nhằm đảm bảo rằng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên được áp dụng đúng đối tượng, mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất.

V. Quy trình thủ tục áp dụng Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên Đảm bảo đúng luật định

Việc triển khai các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Điều này đảm bảo tính pháp lý, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vị thành niên. Sự khác biệt trong quy trình áp dụng biện pháp thay thế giữa nhắc nhở và quản lý tại gia đình phản ánh mức độ can thiệp và yêu cầu phức tạp của từng biện pháp. Hiểu rõ thủ tục áp dụng là yếu tố then chốt để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện đúng chức trách, tránh sai sót và đảm bảo hiệu quả biện pháp thay thế vị thành niên trong thực tiễn. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một quy trình công bằng, hỗ trợ vị thành niên tái hòa nhập xã hội một cách tốt nhất.

5.1. Thẩm quyền áp dụng các Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên

Thẩm quyền áp dụng các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên được pháp luật quy định rõ ràng. Đối với biện pháp nhắc nhở, người có thẩm quyền xử phạt VPHC (như Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, người có thẩm quyền thuộc cơ quan Thanh tra, Thuế, Hải quan, Tòa án nhân dân) sẽ quyết định áp dụng (Điều 139 Luật XLVPHC năm 2012, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 16-17, 30). Điều này cho thấy tính linh hoạt trong việc quyết định hình thức giáo dục phù hợp. Ngược lại, biện pháp quản lý tại gia đìnhthẩm quyền áp dụng tập trung hơn, thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi vị thành niên cư trú (Điều 140 Luật XLVPHC năm 2012, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 17, 30). Việc phân định rõ ràng thẩm quyền giúp đảm bảo trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan, cá nhân liên quan trong quá trình thực hiện.

5.2. Các bước triển khai biện pháp thay thế Từ nhắc nhở đến quản lý tại gia đình

Quy trình áp dụng biện pháp thay thế rất khác nhau tùy theo loại biện pháp. Với biện pháp nhắc nhở, thủ tục tương đối đơn giản: được thực hiện bằng lời nói, ngay tại chỗ và không cần lập biên bản (Điều 139 Luật XLVPHC năm 2012; Nghị định 81/2013/NĐ-CP, Điều 15, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 31). Điều này giúp việc can thiệp sớm cho trẻ em vi phạm pháp luật được nhanh chóng. Tuy nhiên, thủ tục áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình phức tạp hơn, bao gồm nhiều bước: Lập hồ sơ đề nghị (trong giai đoạn thu thập thông tin, đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc kiểm tra hồ sơ từ nơi khác gửi đến); Trình hồ sơ cho Chủ tịch UBND cấp xã; Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định áp dụng; và Gửi quyết định đến cha mẹ hoặc người giám hộ, cùng các tổ chức, cá nhân được phân công phối hợp giám sát (Nghị định 111/2013/NĐ-CP, Điều 20, 21, 24, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 31-33). Quy trình chặt chẽ này đảm bảo sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi áp dụng biện pháp lâu dài hơn.

5.3. Thi hành Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên Vai trò của các bên

Việc thi hành biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên là giai đoạn quan trọng nhất. Đối với biện pháp nhắc nhở, việc thi hành diễn ra ngay tại chỗ, bằng lời nói, với mục đích giúp vị thành niên nhận thức hành vi vi phạm (Luật XLVPHC 2012, Điều 139; Nghị định 81/2013/NĐ-CP, Điều 15, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 34). Ngược lại, biện pháp quản lý tại gia đình có thời hạn từ 3 đến 6 tháng. Trách nhiệm gia đình trong giáo dục trẻ em là chủ yếu, bao gồm quản lý, giám sát, tạo điều kiện học tập và định kỳ báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (Nghị định 111/2013/NĐ-CP, Điều 39, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 34). Các tổ chức, cá nhân được phân công giám sát cũng có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, giới thiệu cơ hội học tập, dạy nghề cho vị thành niên. Trong suốt thời gian này, vị thành niên vẫn được đảm bảo các quyền cơ bản như học tập, lao động, sinh hoạt, tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình phục hồi và tái hòa nhập xã hội.

VI. Luật mới 2020 Thay đổi đột phá cho Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên

Ngày 13/11/2020, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC số 67/2020/QH14 (Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020), mang đến nhiều thay đổi quan trọng liên quan đến biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, tiếp tục khẳng định hướng tiếp cận nhân văn và tiến bộ trong hệ thống tư pháp vị thành niên. Những sửa đổi này không chỉ bổ sung các loại hình biện pháp thay thế mà còn mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng, thể hiện sự linh hoạt và cá thể hóa trong xử lý vị thành niên vi phạm. Đây là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện Chính sách trẻ em và thanh thiếu niên, hướng tới mục tiêu cao nhất là phục hồi chức năng xã hội cho vị thành niênphòng ngừa vi phạm hành chính vị thành niên hiệu quả hơn.

6.1. Bổ sung biện pháp Giáo dục dựa vào cộng đồng Hướng tiếp cận mới

Một điểm nổi bật của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 là việc chính thức ghi nhận thêm một biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính vị thành niên mới: 'Giáo dục dựa vào cộng đồng'. Biện pháp này áp dụng cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Luật XLVPHC 2012 sửa đổi, Điều 92, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 35). Các điều kiện áp dụng bao gồm: có nơi cư trú ổn định, đang theo học tại cơ sở giáo dục, và cha mẹ hoặc người giám hộ có cam kết bằng văn bản về việc quản lý, giáo dục (Luật XLVPHC 2012 sửa đổi, Điều 140a, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 35). Thẩm quyền áp dụng thuộc về Tòa án nhân dân, với thời hạn từ 6 đến 24 tháng. Đây là một mô hình xử lý vi phạm hành chính không giam giữ tiên tiến, giúp các em nhận thức hành vi mà không bị cách ly khỏi gia đình và cộng đồng, đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất.

6.2. Mở rộng đối tượng áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình Cập nhật quan trọng

Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã mở rộng phạm vi đối tượng vị thành niên được xem xét áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình. Theo đó, từ 01/01/2022, biện pháp này sẽ áp dụng cho NCTN thuộc các trường hợp: người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi đã 02 lần bị XLVPHC và bị lập biên bản lần thứ ba trong 06 tháng về một số hành vi cụ thể (gây rối trật tự công cộng, trộm cắp, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép); người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi cũng với điều kiện tương tự nhưng mở rộng thêm các hành vi nghiêm trọng hơn; và đặc biệt là NCTN từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi đã 02 lần bị XLVPHC và bị lập biên bản lần thứ ba trong 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Luật XLVPHC 2012 sửa đổi, Điều 90 khoản 3, 4, 5, Luận văn Thạc sĩ, 2022, tr. 36-38). Việc điều chỉnh này thể hiện sự chuyển hướng xử lý vị thành niên linh hoạt hơn, phù hợp với đặc điểm từng nhóm tuổi và loại hình vi phạm, đồng thời cân bằng giữa chính sách nhân đạo và yêu cầu quản lý xã hội.

01/10/2025
Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Những vấn đề lý luận về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên và xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên (1) Khái niệm người chưa thành niên Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (BPTTXLVPHC) là biện pháp chỉ có thể được áp dụng cho đối tượng là người chưa thành niên (NCTN). Tuy nhiên, không phải mọi NCTN đều có thể được áp dụng biện pháp này.

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012 (Luật XLVPHC năm 2012), thì chỉ NCTN đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới có thể được áp dụng BPTTXLVPHC. Theo đó, để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến BPTTXLVPHC đối với NCTN, thì việc tìm hiểu về khái niệm NCTN là vô cùng cần thiết. NCTN là thuật ngữ được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống xã hội, cũng như trong các quy định pháp luật. Theo khảo sát của tác giả, hiện nay, thuật ngữ “NCTN” được sử dụng trong tổng cộng trong 529 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 52 Luật và 152 Nghị định6.

Tính riêng trong khuôn khổ Luật XLVPHC năm 2012, thuật ngữ “NCTN” được sử dụng tổng cộng 45 lần tại 18 điều khoản khác nhau7. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 (BLDS năm 2015) đưa ra định nghĩa về “NCTN”. Cụ thể, NCTN được hiểu là “người chưa đủ mười tám tuổi”8. Xét ở khía cạnh ngôn ngữ, theo tác giả Nguyễn Lân, thì “chưa” được hiểu là “vẫn không thực hiện, vẫn chưa đạt được”9, còn “thành niên” được hiểu là “người được pháp luật coi là đã trưởng thành và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc mình làm”10.

Theo giải thích của Viện Ngôn ngữ học thì “chưa” là “từ biểu thị ý phủ định đối với điều mà cho đến một lúc nào đó không có hoặc không xảy ra (nhưng 6 Số liệu được tra cứu dựa trên các văn bản được đăng tải tại website: https://luatvietnam. 7 Đó là các Điều 2, 10, 22, 58, 69, 97, 99, 111, 114, 122, 133, 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140 của Luật XLVPHC năm 2012. 9 Nguyễn Lân (2004), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.

10 Nguyễn Lân (2004), tlđd (9), tr. 1681 7 tương lai có thể xảy ra)”11, còn “thành niên” là “đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ”12. Theo đó, mặc dù đưa ra các cách giải thích khác nhau, song có thể thấy các tác giả gần như thống nhất với đặc điểm chung nhất của NCTN, đó là người chưa đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ được pháp luật ghi nhân. Mặc dù, để đánh giá một người đã được xem là “thành niên”, hay trưởng thành hay chưa thì cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý, khả năng nhận thức, độ tuổi,…Theo đó, độ tuổi của một người chỉ là một trong những yếu tố để đánh giá, xem xét vấn đề này.

Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, việc xác định người đã thành niên hay NCTN không nhằm mục đích xác định về độ “trưởng thành” của người đó, mà chủ yếu để xác định khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật, khả năng chịu các trách nhiệm pháp lý từ Nhà nước. Chính vì vậy, các văn bản quy phạm pháp luật thường chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là độ tuổi, vì đây là yếu tố tương đối dễ xác định, tạo cơ sở cho việc áp dụng các quy định pháp luật được thực hiện thống nhất. Trong lĩnh vực xử lý VPHC (XLVPHC), mặc dù Luật XLVPHC năm 2012 không đưa ra khái niệm về NCTN, tuy nhiên, tại Phần thứ năm của Luật này quy định về các nguyên tắc chung khi XLVPHC đối với NCTN lại có đề cập về các độ tuổi như sau: “3. Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với NCTN VPHC phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi VPHC.

Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi VPHC thì không áp dụng hình thức phạt tiền. Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi VPHC bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;” Theo đó, độ tuổi tối đa của một người được xem là “chưa thành niên” theo Luật XLVPHC năm 2012 là “dưới 18 tuổi”. Xét ở góc độ ngôn ngữ, có thể thấy thuật ngữ “dưới” được sử dụng trong Luật XLVPHC năm 2012 có sự khác biệt so với thuật ngữ “chưa đủ” được sử dụng trong BLDS năm 2015. Cụ thể, “dưới” có thể hiểu là “tại một chỗ thấp hơn hoặc chưa tới mức cần thiết”13, còn “đủ” là “có số lượng hoặc 11 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng việt phổ thông, Nxb.

Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 12 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (11), tr. 13 Nguyễn Lân, tlđd (9), tr. 8 mức độ đáp ứng được yêu cầu, không ít hơn, cũng không nhiều hơn”14.

Do đó, “người dưới 18 tuổi” và “người chưa đủ 18 tuổi” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Như vậy, hiện nay đang có sự bất nhất trong cách xác định độ tuổi của NCTN giữa Luật XLVPHC năm 2012 và BLDS năm 201515. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu liên quan đến các BPTTXLVPHC đối với NCTN được quy định trong Luật XLVPHC năm 2012. Vì vậy, tác giả thống nhất với hướng quy định hiện nay của Luật XLVPHC năm 2012 về việc xác định độ tuổi của NCTN.

Theo đó “NCTN” được hiểu là “Người dưới 18 tuổi”. (2) Khái niệm XLVPHC đối với NCTN NCTN là một trong những đối tượng đặc biệt trong xã hội. Theo đó, ở ngưỡng trước khi bước sang tuổi 18, con người bước vào thời kỳ phát triển mang tính bản lề, có sự thay đổi nhanh, rõ rệt về thể chất, tâm sinh lý nhưng sự phát triển này vẫn còn nằm trong giai đoạn cuối của thời kỳ chưa trưởng thành, nhận thức chưa đầy đủ, cũng như tâm lý chưa được ổn định16. Chính vì vậy, NCTN là đối tượng có khả năng dễ thực hiện VPHC, cũng như dễ bị lôi kéo, kích động, xúi giục thực hiện VPHC.

Ngày nay, trong bất kỳ nhà nước hay xã hội nào, thì các vi phạm pháp luật cũng cần phải được phát hiện và xử lý, tuy nhiên mức độ xử lý như thế nào, trách nhiệm pháp lý đến đâu sẽ tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm, hậu quả của vi phạm pháp luật, cũng như đối tượng thực hiện vi phạm pháp luật. Nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, VPHC là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm17. Do đó, VPHC là một dạng của vi phạm pháp luật, vì vậy cũng cần phải được phát hiện và xử lý, hay còn gọi là XLVPHC. Thuật ngữ “XLVPHC” được sử dụng lần đầu tiên tại Pháp lệnh xử phạt VPHC số 28-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành (Pháp lệnh năm 1989), tuy nhiên pháp lệnh này không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về thuật ngữ 14 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (11), tr.

15 Ngoài việc sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”, thì Luật XLVPHC năm 2012 còn có quy định về “Người chưa đủ 18 tuổi” tại điểm b khoản 2 Điều 94 như sau: “2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: …… b) Người chưa đủ 18 tuổi;…” Với việc sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ nêu trên, có thể thấy, Luật XLVPHC năm 2012 cũng có sự phân biệt giữa “người dưới 18 tuổi” và “người chưa đủ 18 tuổi”. 16 Cao Vũ Minh (2021), “Những nội dung về xử phạt NCTN VPHC cần được quy định chi tiết”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 03+04 (427+428), tr. 17 Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012.

Cho đến khi Pháp lệnh XLVPHC số 41-L/CTN ngày 6/7/1995 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành (Pháp lệnh năm 1995), thì thuật ngữ “XLVPHC” mới chính thức được định nghĩa, theo đó, XLVPHC được hiểu là “bao gồm xử phạt VPHC và các biện pháp xử lý hành chính khác”19. Định nghĩa này tiếp tục được kế thừa tại Pháp lệnh xử lý vi phạm phành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02/7/2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 (Pháp lệnh năm 2002)20. Đến khi Luật XLVPHC năm 2012 được ban hành, các nhà làm luật là bỏ đi quy định về việc định nghĩa thuật ngữ “XLVPHC”. Dưới góc độ thuật ngữ thì “xử lý” được hiểu là “có biện pháp trừng phạt đối với một việc phạm pháp”21.

Như vậy, có thể hiểu XLVPHC là việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với chủ thể thực hiện VPHC. Bên cạnh đó, Từ điển Luật học cũng đưa ra định nghĩa về “XLVPHC” như sau: “Là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự”22. Khoa học pháp lý cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cách định nghĩa đối với thuật ngữ “XLVPHC”. Cụ thể, có quan điểm cho rằng “XLVPHC là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước nhằm áp dụng các chế tài hành chính, do các chủ thể được Nhà nước giao quyền, thực hiện đối với cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định”23.

Cách định nghĩa này cũng có một số điểm cần được bàn luận thêm. Cụ thể như sau: Thứ nhất, việc sử dụng thuật ngữ “hành vi VPHC” trong định nghĩa nêu trên là chưa hoàn chuẩn xác. Bởi lẽ, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì VPHC được định nghĩa là “hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ