CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN Ề QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG THPT Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành, phát triển cùng với lịch sử xã hội loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi thời đại quan tâm, xem nó là động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Từ cổ tới kim, từ phương Đông đến phương Tây có rất nhiều những nhà hiền triết nổi tiếng đã xây dựng những học thuyết, có những công trình nghiên cứu vĩ đại để giáo dục đạo đức, phẩm chất cho con người Nền văn minh Phương Đông có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa iệt Nam. ì thế, cha ông ta vốn rất coi trọng chữ “ Đức” và coi đó là phẩm chất hàng đầu và không thể thiếu của mỗi con người, với triết l sống “ tu thân, tích đức” để tự răn mình, răn người. Đó chính là cội nguồn của truyền thống nhân đạo, nhân ái, vị tha rất tốt đẹp của dân tộc ta, truyền thống đó còn tiếp nối tới ngày nay và chắc chắn sẽ còn mãi về sau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ cho lớp trẻ. Bác nói: “ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Bác là tấm gương sáng ngời về đạo đức, là hình ảnh mẫu mực kết tinh những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người iệt Nam. à ngày nay, toàn Đảng toàn dân ta đang phấn đấu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Ở iệt Nam đã có nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu về quản lí giáo dục, nhiều luận văn, luận án về quản lí giáo dục đạo đức học sinh như: Luận văn thạc sĩ : “ Các biện pháp quản l công tác giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường THPT tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đỗ Quang Hợp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ: “ Một số giải pháp quản l nhằm nâng cao chất lượng quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cẩm l huyện Lục Nam- tỉnh Bắc Giang”. Của tác giả Nguyễn văn Ninh. Luận văn thạc sĩ: “ Một số giải pháp quản l của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT địa bàn thành phố Bắc Giang” của tác giả Trần Tuấn Nam Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề GDĐĐ ở phạm trù như đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp, đạo đức trong truyền thống của dân tộc. Trong các phạm trù đó mỗi vấn đề đạo đức từ cổ xưa đến những vấn đề bức xúc hiện nay đã được đề cập và đã đánh giá thực trạng đạo đức học sinh sinh viên hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu giáo dục của thời kỳ CNH-HĐH Chúng ta có thể thấy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh , sinh viên ngày càng được các nhà khoa học ,các nhà giáo dục và cả xã hội quan tâm.
Phần nhiều các tác giả đều khẳng định công tác quản l giáo dục đạo đức còn chưa được coi trọng đúng mức, chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh chưa cao , số lượng học sinh sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân thường đạo lí, mờ nhạt lí tưởng sống, xa lạ với các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, sa vào các tệ nạn xã hội, thậm trí vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Nguyên nhân của tình trạng trên ở đâu? Trách nhiệm của nhà trường phải làm gì? Để hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay thì trường THPT Cộng Hiền cũng như nhiều trường THPT trong địa bàn và trong cả nước cần phải có những biện pháp quản l giáo dục đạo đức cho học sinh một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn nhà trường và địa phương. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “ Biện pháp quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cộng Hiền trong giai đoạn hiện nay” là cần thiết và thiết thực góp phần tháo gỡ những bất cập trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. 1 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài.Khái niệm về đạo đức Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng…” [ 19,Tr.
Dưới góc độ Đạo đức học: “ Đạo đức là một hình thái thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [13, tr12] Dưới góc độ Giáo dục học: “ đạo đức là một hình thái thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [14, tr 170-171]. Theo từ điển tiếng Việt: “Những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [ 5, tr. Một trong những người nghiên cứu xây dựng đạo đức mới là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Người gọi là đạo đức cách mạng. Khi nói về vai trò của đạo đức cách mạng, Người coi đạo đức là nền tảng “ Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng”, đạo đức là thước đo lòng cao thượng “ lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Những phẩm chất đạo đức trong thời đại ngày nay theo Người là “ Trung với nước, hiếu với dân”, “ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, “ thương yêu con người, quần chúng lao khổ, là khiêm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tốn, cầu tiến bộ, chăm lo đến việc chung. Khi bàn về phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng, Người luôn dạy phải lấy tự phê và phê bình, phải thành khẩn, phải thường xuyên “ Ngọc càng mài càng sáng”, nói đi đôi với làm, phải làm gương, xây phải đi đôi với chống, phải tạo được phong trào, dư luận rộng rãi. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng luôn luôn là thước đo, là chuẩn mực cho chúng ta rèn luyện, chính vì vậy mà Bộ Chính trị đã phát động cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để toàn dân nghiên cứu, học tập và làm theo Người.
Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát chung về đạo đức như sau: “Đạo đức là một hình thái thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong quan hệ lợi ích”. Đạo đức là một hình thái thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện. Đạo đức được thể hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên hai phương diện lịch sử và đồng đại.Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức xã hội nhưng đến nay là phản giá trị, hay phi đạo đức.Hoặc ở dân tộc này,giai tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống, song ở dân tộc khác, giai tầng khác lại quan niệm ngược lại. Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại.
Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới những phạm trù: Thiện và ác. Có lương tâm và bất lương tâm Có trách nhiệm và tắc trách nhiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiếu nghĩa và bất nghĩa, bất hiếu. inh và nhục. Hạnh phúc và bất hạnh.
Tính ngay thẳng, lòng trung thực. Tính nguyên tắc, sự kiên tâm. Tính khiêm tốn, sự lễ độ. Tính hào hiệp, sự tế nhị.
Tính tiết kiệm, sự giản dị. Lòng dũng cảm, phẩm chất anh hùng. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả. Đạo đức là một hình thái thức xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế vật chất xã hội, đồng thời nó cũng có quan hệ tương tác với các hình thái thức xã hội khác như pháp luật, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, vv. ì vậy trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách có 3 thành tố: Hành vi đạo đức Hành vi pháp luật Hành vi văn hoá Phẩm đức của con người hoàn thiện gồm hai mặt đức và tài.
Trong đó hành vi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo đức được đánh giá là thành tố quan trọng nhất, tốt đẹp nhất theo triết l : “Pháp luật là đạo đức tối thiểu Đạo đức là pháp luật tối đa” Theo triết l trên thì pháp luật và đạo đức là hai bậc thang của một hành vi liên quan chặt chẽ với nhau cùng một mục đích làm điều thiện, tránh điều ác. Pháp luật là đạo đức tối thiểu, chung quy lại là không được làm điều ác. Đạo đức là pháp luật tối đa, chung quy lại là không những không làm điều ác mà cần tự nguyện làm điều thiện đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho người khác.